• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5041298
  • Số người đang xem: 21
  • Trong ngày: 433
  • Trong tuần: 27977
  • Trong tháng: 1209055
  • Trong năm: 4689075
Trang chủ

Văn hóa dân gian vùng Cao Thượng

( 23:24 | 04/11/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Đỗ Quang Nhật Huy

 

Cao Thượng ngày nay là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của huyện Tân Yên. Đây là vùng đất có con người tụ cư từ rất sớm. Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng dân cư trên vùng đất Cao Thượng đã tạo dựng và tiếp nhận cho mình những truyền thống, những phong tục đẹp của vùng đất trung du.

Là vùng rừng núi thấp, điều kiện thiên nhiên thuận lợi cộng với bản chất cần cù và kinh nghiệm nhà nông giầu có của con người khiến nơi này từng nổi tiếng một thời với: “Tiền tổng Mọc, thóc tổng Lan và “Rau muống Đầu Cầu, tằm dâu Lục Liễu”. Con người Cao Thượng dầy dạn bản lĩnh, giỏi cả võ lẫn văn. Những câu chuyện về Lạc Long Quân- Âu Cơ và Cao Sơn, Quý Minh được lưu truyền ở vùng đất này từ hàng ngàn năm về trước. Đến những giai đoạn lịch sử sau này, người dân Cao Thượng lại quyết một lòng sống chết với kẻ thù xâm lược bằng tinh thần của trai Cầu Vồng Yên Thế. Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Cao Thượng đã góp phần xứng đáng làm nên truyền thống anh hùng bất khuất trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

 Cao Thượng còn là một trong những địa phương bảo lưu được phong tục thuần hậu và nhiều sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc. Có thể kể đến  tục kết chạ giữa hai làng: làng Hậu (xã Liên Chung) và làng Cao Thượng (xã Cao Thượng). Đây là một phong tục đẹp nhằm tạo ra sự đoàn kết lâu dài và sức mạnh to lớn giúp con ngươì vượt qua mọi thử thách gian nan. Câu chuyện về tục kết nghĩa này được người dân trong vùng truyền lại rằng: Vào thời Lê, hai làng Đầu Cầu và Cao Thượng cùng nhau dựng đình. Gỗ làm đình được dân mua từ Thanh Hoá chuyển về qua đường sông. Bè gỗ của dân làng Cao Thượng ngược sông Thương rồi theo con ngòi Ngân Chử để về làng nhưng khi đến làng Hậu (còn gọi là làng Vường) thuộc xã Liên Chung thì mắc cạn. Dân làng Hậu bảo nhau ra giúp sức đưa gỗ về Cao Thượng, từ đó hai làng kết ước với nhau. Trong suốt quá trình hàng trăm năm năm tồn tại, người dân hai làng khi vui họ đều có nhau, khi buồn cũng có nhau. Họ coi nhau như anh em ruột thịt luôn sát cánh chung tay giúp đỡ và bảo vệ nhau trong cuộc sống.

Trong quá trình sinh tồn, những con người ở vùng Cao Thượng đã xây dựng cho mình những thiết chế văn hoá truyền thống tiêu biểu với các ngôi đình, mái chùa cổ kính tự ngàn xưa. Họ cũng để lại những câu chuyện mang đậm màu sắc dân gian, huyền thoại và những phong tục đặc sắc trong lễ tết, hội hè.

Truyện dân gian về sự tích chùa Tiên được người dân ở đây truyền lại rằng: Xưa kia khi vùng Yên Thế hạ còn là vùng rừng núi hoang sơ rậm rạp, có nhiều hổ báo, thú dữ quấy phá. Buổi tối, dân làng ít đi lại tránh bị thú dữ ăn thịt. Trong làng có một cô gái xinh đẹp hôm ấy đi làm về muộn đã bị hổ tha vào rừng. Mọi người đuổi theo hổ dữ nhưng chỉ tìm thấy xác cô gái do hổ bỏ lại. Dân làng lấy làm thương xót cho thân phận của cô nên muốn mang xác cô về chôn ở gần làng nhưng đến nơi thì đã thấy đất đùn lên thành gò đống. Mọi người bèn lập một ngôi miếu nhỏ để thờ cúng vào ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch. Sau này, miếu được dân làng tu bổ to rộng hơn và trở thành một ngôi chùa gọi là chùa Cô Tiên hay chùa Tiên. Ngày giỗ cô vào ngày 10 tháng giêng âm lịch đã trở thành ngày hội chùa Tiên.

Song nói đến Cao Thượng thì không thể không nhắc đến một thiết chế văn hoá truyền thống tiêu biểu trong vùng là đình Cao Thượng (còn có tên là đình Chợ). Ngôi đình này được xây dựng từ thời Lê với không gian kiến trúc to rộng, bề thế và đẹp nhất vùng Tân Yên. Đặc biệt, nghệ thuật điêu khắc kiến trúc bên trong đình mới thực sự là một bảo tàng điêu khắc độc đáo, nguyên bản thời Lê còn tồn tại đến ngày nay. Đình thờ Cao Sơn, Quý Minh, những vị tướng tài giỏi của vua Hùng Định Vương đã có công đánh giặc giữ nước.

Đền Cao Thượng: Theo các cụ truyền lại thì ngôi đền này thờ Quế Hoa công chúa- con gái của vua Hùng, có công chiêu dân lập ấp ở vùng này, lại dạy cho dân trong vùng biết nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dết lụa. Sau khi công chúa qua đời, dân làng nhớ ơn và lập đền thờ ở đây. Ngoài ra còn có Đình xóm Bậu thuộc thôn Bùi, đình Giã thuộc thôn Giã,  Đình Hạ, thuộc thôn Hạ, đình Phố và các ngôi chùa làng Hạ, chùa A Mắt,…

Cao Thượng có chợ đình Cao Thượng (còn gọi là chợ âm dương) họp vào sáng mồng 2 Tết Nguyên đán hàng năm. Chợ được họp ngay trước đình làng. Cả năm chợ chỉ họp một phiên từ 3, 4 giờ sáng đến 7, 8 giờ là hết người. Mọi người đến chợ vui vẻ, cởi mở trong không khí ngày xuân. Với những bộ quần áo đẹp nhất của ngày Tết, các cụ ông áo lương khăn xếp đi lễ đình; các cụ bà với áo tứ thân đi lễ chùa, sau đó các cụ đều ra chợ vãn cảnh và mừng xuân. Trẻ em theo mẹ chơi chợ tết, thanh niên tìm nhau với những lời hẹn hò, còn các bà nội trợ thì mua những sản vật đồng quê để thay đổi hương vị ngày xuân. Mọi người đến chợ đều chúc tụng nhau những lời tốt đẹp, người bán thì bán để lấy may, người mua cũng quan niệm mua cho có lộc. Từ em bé đến cụ già không hề có sự to tiếng trong buổi chợ. Mọi lời nói, cử chỉ đều tỏ ra lịch thiệp, lễ phép và cởi mở, chân tình. Ngoài việc trao đổi mua bán là những lời chúc tụng nhau sang năm mới khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt.... bởi theo quan niệm chợ Cao Thượng chính là dịp để người người giao hoà... Cho đến nay- nếp văn hoá lịch thiệp ấy vẫn còn giữ nguyên trong những phiên chợ tết.

Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội. Trong các ngày từ 12 đến 14 tháng giêng âm lịch, hai làng Đầu Cầu và Cao Thượng náo nức trong không khí hội hè.

Đền Cao Thượng mở hội cùng ngày với đình. Đây là một lễ hội có quy mô lớn của cả vùng. Trong hội dân làng rước kiệu thánh từ đình Chanh và đình Trên về đình Chợ. Xưa kia, ở mỗi dịp hội, việc tế tự trong đình được quy định chặt chẽ. Người ở ban tế do các giáp cử ra. Nếu có bụi (có tang) thì không được tham gia vào việc tế lễ cho dù ông ta có là chức sắc của làng. Chủ tế thì phải có chức sắc, có uy tín, được mọi người kính nể, lại phải biết chữ nghĩa để đọc văn tế và trong cuộc sống đời thường luôn gặp may mắn, thành đạt. Trong các cuộc tế, chủ tế phải chay tịnh để tỏ sự thanh khiết, vì vậy trước ngày hội, chủ tế phải ra đình ăn, ngủ. Trước giờ tế phải tắm rửa bằng nước thơm, sau đó ông được mặt bộ trang phục dành riêng cho buổi tế. Vào cuộc tế, người chủ tế đọc văn tế nói rõ mục đích mở hội của dân và chuyển lời cầu xin của dân tới các vị thành hoàng. Trong không gian của lễ hội, với các động tác dâng hương, dâng rượu vừa tôn nghiêm, vừa uyển chuyển cộng với âm thanh trầm lắng của trống chiêng khiến cho buổi lễ thêm linh thiêng, trang trọng.

Hội Cao Thượng xưa có tục thờ thần bằng lợn đen tuyền. Tục lệ kiêng khem như vậy nên lợn chỉ điểm một vài sợi lông trắng cũng không được. Do có lệ này nên trước ngày vào lệ, làng phải cử người chân thật, không có tang chở, điều tiếng gì trong dân đi cùng ông cai đám tìm mua cho được lợn đen tuyền. Chủ nhà có lợn biết đó là lợn dùng cho việc hội nên không bán đắt và rất muốn bán để xin lộc thánh, người mua không được mặc cả. Mua xong thì giao lại để chủ nuôi tiếp. Nhà nuôi “lợn thờ” hàng ngày quét rửa chuồng, tắm cho lợn sạch sẽ, lại cho ăn bằng cơm, gọi lợn là “ông ỉ”. Cứ hai ngày ông cai đám lại phải đến xem có lông trắng mọc không, nếu có phải bỏ ngay, tìm mua con khác. Đến ngày vào lệ thì rước “ông ỉ” về, mổ thịt, cạo lông, bỏ ruột, rửa thật sạch, để cả con lợn nguyên vào chiếc mâm đồng rồi đặt lên bàn thờ để quan viên làm lễ tế thành hoàng. Cùng với việc tế lễ, rước sách, hội Cao Thượng còn có nhiều trò chơi dân gian như leo cầu bắt vịt, đập nồi đập niêu, đu, vật, cờ bỏi, bịt mắt bắt dê … Buổi tối có hát ví, hát chèo, tuồng.

Cao Thượng còn là vùng đất giầu truyền thống văn nghệ. Cùng với các làn điệu hát ví, hát trống quân, hát chèo ngày xưa cũng được người dân Cao Thượng rất ưa chuộng. Làng Hạ có gánh hát từng nổi tiếng một thời. Nhiều người trong gánh hát được quần chúng hết lòng ca ngợi. Họ không những phục vụ nhân dân trong các làng xã mà còn đi hát ở các nơi khác trong vùng. Lúc đó, hát các vở chèo được diễn là  Kiều, Lưu Bình- Dương Lễ, Nhị Độ Mai, Tống Trân- Cúc Hoa... Những người tham gia gánh chèo làng Hạ hoạt động theo phương thức chủ đám khoán gọn, cơm ăn tiền lấy hoặc tính bằng thẻ của ông cầm chầu, cứ tính thẻ mà ăn tiền. Tuy cái nghèo khó về đời sống vật chất vẫn còn, song lời ca điệu hát của những người nông dân bình dị vẫn vượt lên tất cả. Quanh năm suốt tháng với đồng ruộng để “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, tối về họ lại quây quần bên nhau để tập văn nghệ, hoà nhập vào từng vai diễn của mình với những nhân vật vua quan, những công nương, hoàng tử…. Có những gia đình cả ông cháu, cha con, anh  em, vợ chồng cùng tham gia trong đội văn nghệ. Tiếng hát đã giúp cho con người ở đây thêm yêu cuộc sống, vượt qua mọi vất vả, gian nan. Phát huy truyền thống của làng, theo thông lệ hàng năm, ngày nay cứ vào mồng 4 tết, những người đã từng tham gia gánh chèo làng Hạ đã đi lấy chồng, lấy vợ hay công tác từ mọi miền quê lại trở về làng sinh hoạt câu lạc bộ chèo làng Hạ. Họ cùng ôn lại truyền thống, những bước thăng trầm của đội và suy tư trăn trở về sự sống còn của những làn điệu chèo cổ đã nhọc nhằn cùng họ qua những tháng năm....

Cao Thượng- một vùng đất trung du đã sinh ra những con người anh dũng kiên cường trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược nhưng cũng đầy tiềm năng văn hoá. Mảnh đất Cao Thượng đã tạo dựng được cho mình nhiều truyền thống quý báu và những con người trên mảnh đất này luôn biết nâng niu quý trọng nó để vững bước tiến lên trên con đường đổi mới./.

 

;?>