• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 277721
  • Số người đang xem: 33
  • Trong ngày: 15636
  • Trong tuần: 15636
  • Trong tháng: 277721
  • Trong năm: 277721
Trang chủ

Tiềm năng và triển vọng phát triển du lịch Bắc Giang

( 01:24 | 28/12/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 Ngô Văn Trụ

 Gắn với văn hoá Bắc Giang năm nay là năm thứ 36, tôi đã đi khắp các vùng miền, từ lưu vực sông cầu, đến các lưu vực sông Lục Nam và sông Thương. Tôi cũng đã từng lăn lộn ở vùng Quan họ Việt Yên tới các làng còn lưu lại  những tư liệu quan trọng về hát Ca trù ở Thổ Hà (Việt Yên), Đông Lỗ (Hiệp Hoà), ở Tân Yên, Yên Dũng, đã leo đỉnh cao Yên Tử khảo sát các ngôi chùa chỉ còn là phế tích, thăm các di tích ở Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế….Và tôi có nhiều đợt khảo sát các di sản văn hoá vật thể như các ngôi đình, ngôi chùa, đền miếu: đình Đông Lỗ (Hiệp Hoà), đình Thổ Hà (Việt Yên), đình Phù Lão (Lạng Giang), đình Cao Thượng (Tân Yên), chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng), chùa Đoan Minh, Bổ đà (Việt Yên), chùa Kem (Yên Dũng), chùa Tiên Lục (Lạng Giang), chùa Khám Lạng (Lục Nam), đền Suối Mỡ (Lục Nam), đền Y Sơn (Hiệp Hoà), đền Từ Hả (Lục Ngạn), đền Trần Thủ Độ (Yên Dũng)… Nhiều năm tháng cùng cán bộ Bảo tàng Bắc Giang đi tìm hiểu các làng nghề truyền thống, như: bánh đa Kế, bún Đa Mai, gốm Thổ Hà, rượu Làng Vân, mây tre đan Tăng Tiến, nghề dệt thổ cẩm, nghề làm giấy dó của người Cao Lan ở bản Khe Nghè, nghề thuốc của Dao ở Sơn Động…và tôi thấy rằng tất cả các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể ấy đều là cái gốc của du lịch.

Theo sử liệu Bắc Giang và qua các đợt khảo cổ học đã phát hiện đồ đá cũ ở Chũ, ở An Châu, Lũng Vài… (ở những nơi đó còn có cả những di tích cự thạch) muộn và ở Bắc Giang có di chỉ Phùng Nguyên, Đồng Đậu-Gò Mun, Tiền Đông Sơn và Đông Sơn (Hiệp Hoà, Yên Dũng). Tất cả đã chứng minh một bức tranh toàn cảnh về không gian văn hoá xã hội Đại Việt thời Lý - Trần – Lê - Nguyễn. Những căn cứ đó được thể hiện: họ Thân ở vùng Kép (Giáp Khẩu) vốn là một dòng thủ lĩnh địa phương, được 3 đời vua từ Lý Thái Tổ gả con gái (công chúa) để qua quan hệ hôn nhân mà thực thi một liên minh chính trị nhằm đối phó với giặc ngoại xâm phương Bắc.

Nguyên soái Lý Thường Kiệt, khi đối mặt với xâm lược Tống (1075-1077) trên sông Như Nguyệt (sông Cầu với Nga Ba Xã, bến Đò Ngọt) và ở đằng sau trận tuyến của quân Tống Quách Quỳ, Triệu Tiết đã có phò mã nhà Lý Thân Thiệu Thái, chốt chặn đường tiếp viện và rút chạy của quân địch.

Những di tích như chùa Bổ Đà bên sông Cầu, những ngôi đền Vân Mẫu và truyền thuyết “Ông Cộc, Ông Dài” được lịch sử hoá thành Trương Hống, Trương Hát tướng của Triệu Việt Vương được thờ từ Đu Đuổm đến Lục Đầu.

Lý Trần có họ Thân ở Kép, thời Lê có Thân Nhân Trung, phó soái Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông (1447).

Mạc (1527-1592) có Trạng Kế (Giáp Hải) và biết bao nhân tài anh hùng hào kiệt của Bắc Giang đã được tôn vinh, thờ cúng ở các đền, đình, nghè, miếu trở thành những di sản văn hóa vật thể gắn với văn hoá phi vật thể là hơn 500 lễ hội truyền thống và nhiều truyền thuyết phong tục đẹp ở các làng xã Bắc Giang.

 Bắc Giang còn là vùng đất tụ cư, chúng ta còn lưu truyền và gìn giữ vốn dân ca vô cùng phong phú của đồng bào các dân tộc thiểu số như Sli, lượn, Soonghao của dân tộc Nùng (Yên Thế, Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang, Sơn Động), hát Then, Sli, lượn của người Tày như Lượn Then, Lượn Slương, Lượn Cọi, Lượn Slư…hát sinh ca của người Cao Lan, Cnắngcộ của dân tộc Sán Chí, hát Soongcô của dân tộc Sán Dìu, hát Páo Dung của người Dao…

Tất cả những di sản văn hoá ấy đều là tài nguyên vô cùng quý giá là nguyên liệu gốc cho du lịch văn hoá - tâm linh.

2. Bắc Giang là tỉnh miền núi, trung du và đồng bằng, miền núi gồm Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên, Yên Dũng trong đó có 4 huyện miền núi cao Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động, trung du xen lẫn đồng bằng có Bắc Giang, Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng.

Với khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu chuyển tiếp vừa mang đặc tính khí hậu lạnh vùng đồng bằng và miền núi, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh và ít mưa, mùa nào cũng thuận lợi cho các loại hình du lịch ở Bắc Giang.

Bắc Giang có 3 con sông lớn: sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu. Là vùng núi tương đối dốc nên có nhiều khe suối: suối Mỡ, suối Vực Rêu, suối Nước Vàng, suối Nứa… và có 2 hồ lớn là Khuôn Thần và Cấm Sơn cùng với hệ thống các hồ nhỏ, như: hồ Suối Cấy, hồ Cầu Rẽ, Hố Cao… Hệ sinh thái rừng với dung lượng lớn như Khe Rỗ (Sơn Động)..vv có cơ sở để phát triển du lịch sinh thái

3. Kết tụ những yếu tố tự nhiên và văn hoá ấy Bắc Giang có đủ điều kiện thuận lợi để quy hoạch thành vùng du lịch có đầy đủ các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII đã xác định “Chương trình phát triển du lịch” là một trong 5 chương trình kinh tế xã hội trọng tâm. Ngày 30/01/2010 tại Quyết định số 11/QĐ-UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch phát triển văn hoá, thể thao và du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn 2030,  đã xác định rõ mục tiêu “Đến năm 2020 Bắc Giang trở thành tỉnh có ngành du lịch phát triển” và tại Quyết định số 855/QĐ-UBND ngày 08/6/2010 về việc phê duyệt Xây dựng dự án đầu tư hạ tầng khu du lịch sinh thái Tây Yên Tử… Đó là những tín hiệu đáng mừng cho sự nghiệp phát triển du lịch ở Bắc Giang, “để du lịch là một ngành phát triển nhanh nhất và đóng góp lớn nhất cho sự phát triển bền vững và xoá đói, giảm nghèo”, đúng như lời nhận định của Tổng thư ký tổ chức du lịch thế giới đã nói về du lịch. Ông còn cho rằng: “…Đã đến lúc nên biến từ lời nói thành hành động cụ thể. Và đây là đòi hỏi cấp bách với tất cả những người làm du lịch. Các tiêu chuẩn toàn cầu về du lịch bền vững sẽ là điểm tham chiếu cho toàn ngành du lịch và là bước quan trọng trong việc tạo ra bền vững một tiêu chí không thể tách rời trong phát triển du lịch”.

Tôi nghĩ rằng, định hướng của Tổ chức du lịch thế giới sẽ giúp cho chúng ta suy nghĩ, đánh giá, cân nhắc đối với sự khởi đầu cho sự phát triển du lịch ở Bắc Giang. Chúng ta đi sau và đã có những kinh nghiệm về thất bại và thành công của người đi trước nên càng phải thận trọng bởi du lịch là một hiện tượng văn hoá mang tính hai mặt nó vừa mang lại nguồn lợi lớn về kinh tế, vừa giáo dục truyền thống, nhưng nếu không phát triển theo một quy hoạch hợp lý, không đánh giá đúng khả năng bảo tồn và phát triển thì có nguy cơ làm phá vỡ, sai lệch di sản, biến dạng môi sinh, gây ra sự xuống cấp về môi trường sinh thái sẽ làm mất đi những nét văn hoá đặc sắc mà cha ông ta đã tạo dựng hàng ngàn năm.

Vì lẽ đó mà quá trình quy hoạch, đầu tư, phát triển du lịch ở Bắc Giang chúng ta cần quan tâm tới yếu tố du lịch bền vững để vừa có thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, vừa bảo tồn được bản sắc văn hoá, duy trì môi trường sinh thái. Mặt khác, phát triển du lịch bền vững cần đặt ra những mục tiêu, những điều kiện để gắn kết con người với thiên nhiên trong mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.

Bắc Giang có hệ sinh thái đa dạng và phong phú có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, xong hệ sinh thái ấy đang bị tác động xấu của con người như: chặt cây, phá rừng, đào núi lấy đất ở núi Nham Biền (Yên Dũng) và nhiều quả núi bị đào bới nham nhở trên đường vào suối Mỡ (Lục Nam); Vấn đề khai thác khoáng sản ở Tây Yên Tử, vấn đề giao đất, giao rừng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến bảo vệ như làm phá vỡ cảnh quan môi trường những tác động xấu ấy cần được ngăn chặn kịp thời và có biện pháp, để quản lý và bảo vệ khẩn cấp.

Về du lịch văn hoá tâm linh: đây là những cuộc hành hương về cội nguồn, về những vùng đất thiêng. Về đây du khách vữa được thưởng thức các công trình kiến trúc nghệ thuật (đình Thổ Hà, Đông Lỗ, Đình Vường, đình Cao Thượng, đình Phù Lão…và các ngôi chùa ở khắp các làng quê, đặc biệt là các ngôi chùa thuộc Tây Yên Tử, các ngôi đền suối Mỡ, suối Cấy, Nguyệt Hồ..) vừa tưởng nhớ về cội nguồn của cha ông với truyền thống mở đất lập làng, chống giặc ngoại xâm…Những khu di tích ấy cần được bảo tồn những giá trị văn hoá-kiến trúc, và tâm linh hết sức nghiêm ngặt. Vì vậy, khi tiến hành tôn tạo, tu bổ cần quan tâm tới  việc bảo tồn nguyên trạng cả vê kiến trúc nghệ thuật  và địa điểm. Ở một số địa phương đang có hiện tượng di dời di tích, bê tông hoá di tích cần được nghiên cứu và chỉ đạo cụ thể của cơ quan chuyên môn để việc tôn tạo đúng Luật Di sản. Ở đền Suối Mỡ cũng có ý tưởng xây dựng thêm chùa ở cạnh đền cũng cần xem xét cân nhắc, hoặc có hiện tượng xây dựng thêm các công trình mang tính tín ngưỡng ở khu di tích mà trước đây không có (việc xây dựng ở chùa Hương là một ví dụ) cần được cảnh báo.

Về dịch vụ và sản phẩm du lịch. Cần có quy hoạch hoạt động dịch vụ ở khu du lịch thật sự khoa học để vừa bảo tồn được  giá trị nhiều mặt của khu du lịch , vừa đảm bảo được nhu cầu sinh hoạt ăn, ở, thưởng thức của du khách. Chu trọng bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống tạo những sản phẩm mang tính văn hoá ở từng địa phương như: ẩm thực, đồ lưu niệm, nghệ làm thuốc, dân ca, dân vũ… đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách. Ví dụ, như rượu Làng Vân, gốm Thổ Hà, bánh đa, bánh đúc, bún, dệt thổ cẩm, nghề làm giấy dó… tuỳ từng nơi mà tỉnh có chính sách cụ thể, sát thực cho việc bảo tồn và phát triển. Các nghề truyền thống đang bị mai một  cần được phục hồi và phát triển vừa tạo sản phẩm cho du lịch, vừa thúc đẩy kinh tế làng nghề phát triển.

Tựu chung, du lịch ở Bắc Giang cần đạt được những yêu cầu:

- Bảo tồn, tái tạo, duy trì nguồn tài nguyên du lịch nhằm mục đích phát triển du lịch bền vững.

- Duy trì tính đa dạng và hạn chế tối đa những tác động bất lợi tới môi trường sinh thái - nhân văn

- Đảm bảo sự cân bằng sinh thái với việc bảo tồn di sản văn hoá

- Đảm bảo tốt cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ, bộ, nhà hàng, khách sạn và dịch vụ du lịch.

Những vấn đề nêu trên nhằm đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển các điểm du lịch như: điểm du lịch di tích lịch sử Yên Thế gắn với cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám, điểm du lịch sinh thái hồ Cấm Sơn, điểm du lịch sinh thái khu bảo tồn Tây Yên Tử gắn với các di tích lịch sử Thiền phái Trúc Lâm, điểm du lịch sinh thái khu bảo tồn rừng nguyên sinh Khe Rỗ, điểm du lịch Suối Mỡ (du lịch sinh thái gắn với tâm linh); điểm du lịch sinh thái Khuôn Thần (gắn với văn hóa); điểm du lịch sinh thái thác Ba Tia Sơn Động (gắn với văn hóa dân tộc), điểm du lịch sinh thái và tâm linh Y Sơn (Hiệp Hòa) v.v… và các điểm du lịch văn hóa tâm linh thuộc các huyện: Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang, Bắc Giang v.v… gắn với các làng nghề truyền thống.

Tất cả những vấn đề đặt ra trong phát triển du lịch ở Bắc Giang đòi hỏi phải đảm bảo và tuân thủ các mục tiêu, yêu cầu về nguyên tắc phát triển du lịch bền vững nhằm gắn kết giữa con người với thiên nhiên trong mối quan hệ hài hoà tương tác và lâu bền như Tổng thư ký tổ chức du lịch thế giới đã chỉ ra “Các tiêu chuẩn toàn cầu về du lịch bền vững sẽ là điểm tham chiếu cho toàn ngành du lịch và là bước quan trọng trong việc tạo ra bền vững một tiêu chí không thể tách rời trong phát triển du lịch”.

Tôi nghĩ rằng du lịch Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 sẽ từng bước phát triển để hoà cùng với các tiêu chuẩn toàn cầu về phát triển du lịch bền vững./.

 

;?>