• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4161065
  • Số người đang xem: 18
  • Trong ngày: 6903
  • Trong tuần: 34987
  • Trong tháng: 328822
  • Trong năm: 3808842
Trang chủ

Bắc Giang với công tác bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số

( 00:49 | 02/03/2011 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Ngô Văn Trụ

Bắc Giang là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc  Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa. Lịch sử đã chứng minh và ghi dấu ấn sự có mặt của con người thời tiền sử và sơ sử qua các di chỉ khảo cổ văn hóa Sơn Vi (đồ đá cũ) phát hiện ở Bố Hạ (Yên Thế), Chũ (Lục Ngạn), An Châu, Khe Táu (Sơn Động)… Cho đến ngày hôm nay trải qua tiến trình phát triển của lịch sử và công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, vùng núi Bắc Giang đã in dấu rất nhiều kỳ tích trong lao động sản xuất, giá trị văn hóa tiêu biểu trên cả hai lĩnh vực văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể như: Quan Lang- Cò Lẩu, Then- Tào Bụt, Sli- Lượn, các truyện thơ Nam- Kim Thị Đan, Lương Sơn Bá- Trúc Anh Đài của dân tộc Tày- Nùng; Páo Dung- Tò Dung của đồng bào Dao; múa xúc tép- Chim gâu và hát Nộc Niệc của người Cao Lan; Dân ca Sán chí, Cao Lan, dân ca Sán Dìu. Nguồn di sản văn hóa vô cùng quý giá đó một thời gian dài do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan đã làm cho di sản bị mai một, mất dần và có nguy cơ mất hẳn kể cả trang phục, chữ viết và tiếng nói, những phong tục tập quán tốt đẹp cũng như những điệu múa, làn điệu dân ca, ẩm thực…cần được nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi và phát triển.

Trước những nguy cơ đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị quyết và chính sách đối với văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi như: Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, Nghị quyết Hội nghị lần thứ I của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 14/1/1993 về văn hóa, văn nghệ, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng. Trong đó Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác văn hóa thông tin ở miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số đã nêu rõ: “Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, sự  nghiệp văn hóa thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số những năm qua đã có bước phát triển trên một số lĩnh vực, bản sắc văn hóa các dân tộc được coi trọng, mức hưởng thụ về văn hóa ở một số nơi được nâng lên . Công tác sưu tầm, nghiên cứu, phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã được chú trọng. Tuy nhiên công tác văn hóa thông tin ở miền núi còn nhiều hạn chế, mức hưởng thụ văn hóa còn thấp. Nội dung và hình thức của những sản phẩm văn hóa thông tin đưa đến các vùng này còn nghèo nàn hoặc chưa thật phù hợp. Đặc biệt ở một số nơi rất thiếu thông tin cập nhật về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Về tổ chức bộ máy và quy hoạch sử dụng cán bộ làm công tác văn hóa thông tin nhất là ở các huyện và cơ sở chưa quan tâm đúng mức chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; Những chính sách, biện pháp cụ thể bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số chưa được ban hành kịp thời. ” Những tồn tại đó đã được hạn chế sự phát triển văn hóa thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiếu số cần được khắc phục.

Trong 5 năm qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 4/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng Đề án “Bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa cá dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001-2005”. Ngày 17 tháng 7 năm 2001 UBND tỉnh đã có Quyết định số 84/2000/QĐ-UB phê duyệt đề án này với mục tiêu: “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của các dân tộc thiểu số, xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở” và ra Nghị quyết phê duyệt Đề án “Xây dựng huyện điểm văn hóa miền núi Lục Ngạn giai đoạn 2001-2010”. Hai đề án tập trung việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra với các nội dung: Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc như chống xuống cấp, tôn tạo các di  tích lịch sử văn  hóa, cách mạng và kháng chiến; Nghiên cứu, điều tra, bảo tồn một số bản, làng có nét văn hóa tiêu biểu như: Tày, Nùng, Sán Chí, Cao Lan, Sán  Dìu và các lễ hội truyền thống của các dânctộc, phong tục tập quán tốt đẹp, trang phục, tiếng nói chữ viết; xây dựng thiết chế văn hóa, gia đình, làng bản văn hóa.

Quá trình thực hiện các đề án 5 năm qua ở Bắc Giang đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi, như: mở đầu bằng Hội thảo “Văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Giang” đã thu hút sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu khoa học ở Trung ương và địa phương. Qua Hội thảo, đã nhận diện rõ hơn về văn  háo miền núi và văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số, gợi mở và đề ra những giải pháp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa ở miền núi Bắc Giang. Công tác điều tra, nghiên cứu sưu tầm văn hóa phi vật thể được tiến  hành toàn diện, đồng bộ và từng bước được bảo tồn và phát huy như phục hồi lễ hội Từ Hả, xuất bản và ghi đĩa hình DVD “Dân ca Sán Chí”, Dân tộc Sán Dìu; Đang tiếp tục triển khai hoàn chỉnh cuốn “Dân ca Cao Lan”; “Dân ca Dao”; Phục hồi Hội Bơi Chải ở An Châu (Sơn Động); sưu tầm dân ca Tày- Nùng; phục hồi đàn Tính và Then Nùng . Từ năm 1996 đã khôi phục hát Soong hao tại Khuôn  Thần (Lục  Ngạn), và tiếp theo các năm liên tục đến nay đã được 10 năm và trở thành Ngày hội hát- Ngày hội văn hóa các dân tộc ở Lục Ngạn. Đặc biệt từ Hội hát này, các xã, các bản, các dân tộc đều tổ chức và duy trì Hội hát ở địa phương mình, xây dựng niềm tự hào cho  đồng bào  các dân tộc xóa bỏ được tính tự ti để hòa vào cộng đồng các dân tộc. Từ đó trang phục, dân ca, tiếng nói, chữ viết, các lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian được khai thác bảo tồn và phát huy tốt trong sinh hoạt văn hóa của họ.

Cùng với công việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể,công tác tu bổ các di tích lịch sử văn hóa được quan tâm hơn. Hầu hết các di tích đã lập hồ sơ xếp hạng và đầu tư tu bổ bằng các nguồn vốn của Nhà nước và bằng nguồn xã hội hóa. Các di tích được Nhà nước đầu tư thì nhân dân thường đóng góp thêm 50%, có nơi tăng tới 2/3 nguồn đầu tư của Nhà nước. Hệ thống thiết chế văn hóa mới được chú trọng của các cấp chính quyền, được nhân dân đón nhận và phát huy có hiệu quả. Trong những năm qua tỉnh đã đầu tư 450 triệu để bảo tồn và xây dựng nhà sàn văn hóa cho các dân tộc như Cao Lan, Sán Chí , Dao, Sán Dìu, ở 4 huyện Yên Thế, Sơn Động, Lục  Nam, Lục Ngạn. Vốn đầu tư của tỉnh cho mỗi nhà văn hóa là 40 triệu đồng thì nhân dân đóng góp thêm hàng trăm triệu , nguồn vốn bổ sung này do chính sách xã hội hóa. Trong 5 năm qua các hoạt động đưa văn hóa đến với đồng bào các dân tộc ít người được thường xuyên hơn, nhất là đối với đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa. Chiếu phim được 1529 buổi, biểu diễn nghệ thuật Chèo 460 buổi, Đội Thông tin lưu động hoạt động 420 buổi với hàng nghìn lượt biểu diễn văn nghệ tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phục vụ miễn phí cho đồng bảo. Công ty Phát hành sách đưa 16.960 bản sách, tài liệu, 230.000 vở học sinh, 19 tấn giấy trị giá 400 triệu đồng phục vụ cho các xã vùng cao và 44 xã đặc biệt khó khăn. Thư viện tỉnh luân chuyển 800 nghìn lượt sách về miền núi, xây dựng và cấp sách báo cho các tủ sách ở các làng, bản trị giá 200 triệu đồng; cấp trang thiết bị theo chương trình mục tiêu ở các xã đặc biệt khó khăn 460 triệu, 1000 ti vi, 5000 radio, xây dựng 9 trạm phát thanh, truyền hình, 43 trạm truyền thanh  không dây, trạm phát sóng FM, phủ sóng phát thanh 100%, truyền hình 85%; 100% các huyện Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế đã tổ chức thường xuyên Ngày hội văn hóa các dân tộc. Tỉnh đã tổ chức 2 cuộc tại trung tâm tỉnh (ở thành phố Bắc Giang ). Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật đã đào tạo 140 học sinh chuyên ngành quản lý văn hóa bổ sung cán bộ cho các xã ở miền núi và các xã đặc biệt khó khăn. Sở Nội vụ bồi dưỡng 18.388 cán bộ công chức xã và cơ sở trong đó có 10% số người là dân tộc thiểu số. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức 3 khóa đào tạo cho 68 học viên là người dân tộc thiểu số để hoạt động ở địa phương. Công an tỉnh chọn con em các dân tộc gửi đào tạo ở các trường của Bộ Công an, đến nay có 80  học viên ra trường về địa phương công tác. Sở Giáo dục Đào Tạo đã xây dựng 4 trường Nội trú ở các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn,  Lục Nam, Yên Thế và Trường dân tộc nội trú tỉnh. Hiện naycó hơn 1000 học sinh từ tiểu học đến lớp 12. Miễn giảm học phí và cả khoản đóng góp cho 139.481 học sinh với số tiền: 7.920 triệu; hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa, đồ dùng học tập cho 41.887 học sinh với số tiền là 3.180 triệu đồng. Trong 5 năm số học sinh miền núi thi đỗ và các trường cao đẳng, đại học là 119 người.

Như vậy sau 5 năm thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001- 2010” có thể rút ra những điểm cơ bản như sau:

- Hầu hết các chỉ tiêu của Đề án dặt ra trong giai đoạn đầu đều hoàn thành, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước phát triển rõ rệt trên một số lĩnh vực.

- Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số được coi trọng, bảo tồn phát huy và phát triển gắn liền với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

;?>