• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 1322673
  • Số người đang xem: 26
  • Trong ngày: 8100
  • Trong tuần: 17918
  • Trong tháng: 970450
  • Trong năm: 970450
Trang chủ

Phương ngôn Xứ Bắc

( 18:21 | 09/05/2011 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Giáp Thị Mai Loan

Ai lên xứ Bắc mà trông

Đất lành gạo tráng nước trong thay là.

Xứ Bắc là một vùng đất cổ, nơi đây đã chứng kiến cuộc sống ngàn năm từ thời Bắc thuộc cho đến hết thời phong kiến. Xứ Bắc được mở mang trước cả Thăng Long, và gần như không có một triều đại nào, không trực tiếp dựa vào Xứ Bắc về sức người, sức của. Cái vinh dự của quê hương một đống ông nghè, một bè tiến sĩ, một bị trạng nguyên, một thuyền bảng nhỡn….chỉ mới có ở Xứ Bắc. Rồi những giai thoại về các giai nhân “tay cầm bán nguyệt xênh xang”, những dũng sĩ  “đánh Bắc dẹp Đông”, lại cũng thấy rất ở Xứ Bắc.

Cuốn sách “Phương ngôn xứ Bắc” ra đời đã cung cấp những bằng chứng về những con người sinh động và cụ thể. Cuốn sách do tác giả Khổng Đức Thiêm và Nguyễn Đình Bưu biên soạn, được Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao Hà Bắc xuất bản năm 1994, dày 351 trang.

Tác giả đã cho chúng ta biết phương ngôn Xứ Bắc bao gồm những câu tục ngữ, ngạn ngữ, ca dao, câu đối, sấm ký… gắn với địa danh một vùng quê Xứ Bắc được thể hiện một cách cô đọng, có vần điệu, dễ nhớ, dễ thuộc và được lưu truyền trong dân nhân hoặc được ghi lại trong sử sách.Nội dung của cuốn sách được chia làm sáu phần: Biểu trưng Xứ Bắc; Địa linh nhân kiệt; tình yêu quê hương; Tài phẩm và đặc sản; nghề nghiệp và tập tục; lịch sử và di tích

.

Phần 1: Biểu trưng xứ Bắc.

Xứ Bắc là tên gọi tỉnh Hà Bắc từ hồi trước thế kỷ thứ 10, cách gọi này còn tồn tại mãi đến thời Lê - Nguyễn, được dùng cả trong văn bản và sử sách của nhà nước. Trong cuốn Kinh Bắc Phong thổ ký cũng có những dòng:

Trời Nam Việt vững nền tỉnh Bắc.

Ở địa dư mái bắc Nhị Hà.

Bốn phủ hai mươi huyện nha.

Nam là Nam cảnh đông là Hải Dương.

Đất đai Hà Bắc màu mỡ phì nhiêu sản ra nhiều thóc gạo, điều mà Hoa tiên sinh đã gói gọn trong một câu thơ “Đạm thực diệp giai Kinh Bắc phạn”(Cơm kinh Bắc ăn nhạt cũng ngon).

Ăn xứ Bắc, mặc xứ Kinh. Xứ Bắc nổi tiếng về tài khéo léo trong việc nấu ăn, có nhiều vật phẩm quý giá kể từ rau muống Hiên Đường, cua vàng Phụng Pháp đến các loại gà Hồ, trâu Ngo, bò Chương, cam Bố Hạ.

Sự lịch lãm trong ăn uống của xứ Bắc có thể ví với sự thanh lịch, phong nhã của đồ phục sức đất Kinh Kỳ.

Phần 2: Địa linh, nhân kiệt

Tiểu loạn cư Thăng Long

Đại loạn cư Yên Thế

Câu trên ta có thể hiểu: Loạn nhỏ có thể cư ngụ ở đất Thăng Long còn loạn lớn thì phải lên đất Yên Thế mới an toàn.

Yên Thế là tên huyện, thời Lý nằm trong đất Lạng Châu, thời Trần mang tên là Yên Viễn thuộc lộ Như Nguyệt Giang. Khi nhà Minh đô hộ , huyện mang tên Thanh Viễn. Đến thời Lê đổi gọi là Yên Thế. Thời Nguyễn gọi là đạo Yên Thế.

Ngày 24/12/1895 Thực dân Pháp lập đạo quan binh Yên Thế, giải tán tổng Yên thế. Năm 1899 thay thế đạo quan binh là đại lý Nhã Nam.Đầu thế kỷ 20 đổi gọi là phủ Yên Thế.

Ngày 69/1957 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 532 TTg chia hai huyện thành Yên Thế và Tân Yên.

Việt Yên: Quang Biểu, Thổ Hà

An Phong: Quả Cảm, HIệp Hòa, Tiếu Mai.

Việt Yên là tên huyện từ năm 1824 trở lại đây. Năm 1892 Việt Yên chuyển sang phủ Lạng Giang. Quang Biểu là tên xã, tên tổng của Việt Yên. Thổ Hà là một xã của tổng Tiên Lát - Việt Yên nơi có nghề cang gốm nổi tiếng, nay thuộc xã Vân Hà - Việt Yên.

Quả Cảm, còn gọi là Kẻ Cởm thuộc tổng Trâm Khê - Yên Phong. Nay thuộc xã Hòa Long - Yên Phong, nằm dọc sông Cầu.

Hiệp Hòa là tên huyện.Thời Lý huyện có tên là Phật Thệ, còn thời Trần thì gọi là Thiện Thệ. Từ đầu thời Lê huyện mang tên là Hiệp Hòa.

Tiếu Mai: tên của hai xã Mai Hạ, Mai Thượng tổng Mai Đình, tên nôm là làng Tiếu nay thuộc xã Mai Đình – Hiệp Hòa.

Bốn nơi kể trên đều giáp sông, có truyền thống thượng võ.

Thứ nhất Cổ Bi

Thứ nhì Cổ Loa

Thứ ba Vườn Hồng.

Vườn Hồng thuộc xã Đông Lâm tổng Mai Đình, Hiệp Hòa nay là xã Hương Lâm - Hiệp Hòa. Khu vực này là một doi đất cao ráo, có di chỉ từ thời Hùng Vương.

Đông Lâm có đất Vườn Hồng

Ai mà táng được quận công đời đời

Lý Viên là đất con rơi

Ai mà táng được đời đời quận công.

Lý Viên: tên xã thuộc tổng Ngọ Xá - Việt Yên, nay thuộc xã Bắc Lý huyện  Hiệp Hòa. Đây là khu vực đã tìm được trống đồng thời Hùng Vương.

Nham Biền 99 ngọn cao

Chín mươi chín nàng tiên đắp khi nào cho xong

Chín mươi chín con theo mẹ một dòng

Còn một con út ra lòng không theo.

Tương truyền Nham Biền còn gọi là núi Neo, cửa thập cửu phong sơn thuộc sơn phận huyện Yên Dũng, sau khi được 100 nàng tiên đắp có 100 con phượng hoàng bay đến, nhưng vì có một nàng tiên đắp lạc một trái núi sang Bằng Lương nên chỉ đủ chỗ cho 99 con đậu. Do đó Nham Biền chỉ có 99 ngọn, không thành được đất đế đô.

Có phải con mẹ con cha

Thì sinh ở đất Thổ Hà – Vạn Vân.

Thổ Hà, Vạn Vân thuộc tổng Tiên Lát - Việt Yên, nay thuộc xã Vân Hà,  Việt Yên, có nghề gốm và nấu rượu. Làng mạc trên bến dưới thuyền rất sầm uất, dân cư đông đúc và giàu có nhất vùng. Câu này còn có người đọc là:

Cũng thì con mẹ con cha

Sinh em sao chẳng Thổ Hà – Vạn Vân”.

Hay:

Trời mưa cho ướt lá khoai

Đố ai lấy được con trai Thổ Hà

Trời mưa cho ướt lá cà

Đố ai lấy được đàn bà Vạn Vân.

…………

3.Tình yêu quê hương:

Làng Thương là chốn quê nhà

Ngoài  là thành thị trong là nông thôn.

Làng Thương tên chữ là Thọ Xương thuộc tổng Thọ Xương huyện Bảo Lộc(nay thuộc thành phố Bắc Giang), nằm trên đường quan, cạnh bến sông Thương, tuy chuyên buôn bán vải lụa từ sớm, lại có nhiều người làm thư lại nhưng vẫn giữ nếp nhà như mọi làng quê khác.

Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về tỉnh Bắc với anh thì về

Tỉnh Bắc có lịch có nề

Có nghề buôn bán có nghề cửi canh

Có nghề xe chỉ, học hành

Có nghề tô vẽ tờ tranh bốn mùa.

……

Sông Thương nước chảy đôi dòng

Chia ly đôi ngả cho lòng quặn đau.

Có thuyết cho rằng đây là con sông cuối cùng chứng kiến cành ly biệt đầy thương tâm của lính thú đi chảy nước non Cao Bằng với vợ con hồi Trịnh - Mạc phân tranh nên ở đây còn có bến Chia Ly (nay đọc là Chi Li) và tên sông Thương. Câu trên còn có nhiều dị bản như sau:

Sông Thương nước chảy đôi dòng

Bên trong bên đục đau lòng biệt ly.

Sông Thương nước chảy đôi dòng

Tình đôi ta cho trọn chớ phân lòng đục trong.

…………..

4.Tài phẩm và đặc sắc:

a, Bừa Rào, dao Vát

Trống Lát, mõ Vân

Chuông chùa Quả Cảm.

Rào tên phường rèn ở Quế Nham(nay thuộc Tân Yên). Bừa Quế Nham xưa nay nổi tiếng trong nhiều huyện thuộc phủ Lạng Giang cũ.

Vát tên làng Việt Vân tổng Đại Liễn – Vó Giàng, nay thuộc xã Việt Thống, Quế Võ, thợ rèn ở đây sản ra loại dao bổ cau nổi tiếng, có cả một bài quan họ nói về việc này.

Lát: xã tên Lát, nay trong xã Tiên Sơn - Việt Yên. Vân: xã Vạn Vân tổng Tiên Lát nay trong xã Vân Hà - Việt Yên. Trống và mõ của cả hai làng to có tiếng trong vùng có thể sánh với chuông chùa Quả Cảm.

b, Quýt Bo, bò Sỏi, gỏi Dinh

Đình Nhã Nam, cam xứ Thái, gái Dương Lâm.

Bo tên chỉ chung mấy làng Bo Nhon, Bo Chợ, Bo Giầu, Cồn, Thượng, Bố Hạ… nơi được phù sa sông Sỏi, sông Thương bồi đắp. Cam quýt ở đây hợp thủy thổ nên quả to, vỏ mỏng, ngọt mát, thơm nồng, dặc biệt nhất là quýt bộp. Đến mùa thu hái, các gia đình dùng xe trâu hoặc cho vào sọt chuyển xuống thuyền xuôi về Phủ Lạng Thương.

Sỏi là tên nôm của làng Ngọc Sơn tổng Hữu Thượng - ở đây đồi bãi nhiều nên nhà nào cũng nuôi hàng chục trâu bò.

Dinh thuộc xã Yên Lễ, có nhiều ao hồ nên nghề nuôi cá phát triển. Gỏi ở đây được làm bằng cá, được nhiều người ưa chuộng.

Nhã Nam gồm nhiều đình, to nhất là đình làng Chuông. Đình kiến trúc theo kiểu chữ công, thờ Cao Sơn – Quý Minh, có nhiều chi tiết chạm khắc tinh vi. Năm 1885 Pháp phá hủy để dựng đồn.

Dương Lâm xưa thuộc tổng Nhã Nam, con gái đảm đang đồng áng và buôn bán.

c, Khoai lang làng Đọ

Khoai sọ làng Non

Lợn con làng Dẫm

(Làng Dẫm lợn con

Làng Non khoai sọ

Làng Đọ khoai lang)

Làng Đọ thuộc xã Cương Sơn tổng Cương Sơn - Lục Ngạn, nay thuộc Cương Sơn - Lục Nam. Làng Non còn gọi là Phú Yên, làng Dẫm gọi là Xuân Mãn xã Nhẫm Lũng (sau đổi là Bắc Lũng) tổng Nhẫm Lũng - Phượng Nhỡn, nay trong xã Bắc Lũng - Lục Nam.

5. Nghề nghiệp và tập tục:

Hòa Làng nói phét có ca

Dương Sơn nói phét bàng ba Hòa Làng.

Dương Sơn có tên nôm là Kẻ Nẻo, nếu Hòa Làng ăn khổ mà vẫn đại ngôn để dân gian đặt thành câu ca (Hòa Làng ăn cơm rang nói phét) thì Dương Sơn cũng có tích để dịch nên sự thừa nhận. Truyền rằng trong một buổi tiếp kiến giữa thành Hoàng Dương và Hòa Làng, tài đại ngôn của thành Hoàng Dương còn giỏi gấp ba lần thành Hoàng Làng do vậy mà có câu trên.

Nước sông đổ lẫn nước ngòi

con gái làng Ảm cầm roi dạy chồng.

Hay

Nước sông đổ lẫn nước ao

Con gái Kẻ Ngọ cầm dao dạy chồng

Nước ao đổ lẫn nước đồng

Con gái Kẻ Ngọ gọi chồng bằng em.

Tiền Đình thì cứ giỗ cha

Đông Na giỗ mẹ gần xa đổ về.

Tiền Đình, Đông Na xưa thuộc Chuế Dương (Thiết Sơn, Yên Dũng) nay thuộc Quế Nham - Tân Yên. Giáp Đăng Luân quê ở Tiền Đình, lấy vợ Đông Na, làm quận công thời Lê. Hàng năm đến ngày giỗ, con cháu họ Giáp các nơi về dự rất đông.

6. Lịch sử và di tích:

Ai qua Yên Tử - Quỳnh Lâm

Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành

Nào ai quyết chí tu hành

Có về Yên Tử mới đành lòng tu.

Chùa Vĩnh Nghiêm còn gọi là chùa Đức La thuộc làng Đức La tổng Trí Yên huyện Phượng Nhỡn ,nay thuộc xã Trí Yên –- Yên Dũng. Nơi đây là trung tâm phật giáo thời Trần.

Yên Thế chiến công lưu phật cảnh

Phồn Xương chung khánh tiễn trần tâm.

Chùa Phồn Xương vốn gọi là đền Thề, sau này nghĩa quân mới bày thêm tượng do đó thành chùa. Trong suốt 20 năm (1894-1913) Phồn Xương là nơi ghi được nhiều chiến công oanh liệt.

………..

Phương ngôn xứ Bắc là một tập sách được biên soạn công phu. Là một tài liệu rất có giá trị đối với bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu về phương ngôn Việt Nam, phương ngôn xứ Bắc; cung cấp cho bạn đọc những kiến thức bổ ích về văn hóa, lịch sử địa phương, về quê hương Hà Bắc xưa.

Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn “Phương ngôn xứ Bắc” với ký hiệu AP.000444 tại Kho Địa chí, Thư viện tỉnh Bắc Giang.

;?>