• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 1737630
  • Số người đang xem: 48
  • Trong ngày: 1367
  • Trong tuần: 1367
  • Trong tháng: 1385407
  • Trong năm: 1385407
Trang chủ

Mẻ chua - gia vị trong văn hóa ẩm thực người dân làng Xuân Tiến, xã Tự Lạn, huyện Việt Yên

( 19:06 | 09/10/2011 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Nguyễn Thị Mến

Đi tới mỗi làng quê, mỗi vùng đất trên quê hương Bắc Giang tìm hiểu truyền thống văn hoá mới thấy được sự phong phú và đặc sắc của văn hoá Việt. Mỗi một vùng quê mang trong mình những phong tục, những nếp sống riêng không thể hoà lẫn.

Thực hiện chương trình Bảo tồn và phát huy di sản Văn hoá các dân tộc tỉnh Bắc Giang, trong một ngày nắng tháng 7, tôi tìm về thôn Xuân Tiến, xã Tự Lạn, huyện Việt Yên tìm hiểu truyền thống văn hoá nơi đây và thấy nhiều nét đặc trưng, độc đáo. Thú vị và khiến tôi say mê là việc tìm hiểu về truyền thống văn hoá ẩm thực của vùng đất này. Đó là việc dân làng nơi đây còn thực hành và gìn giữ một gia vị truyền thống, đó là mẻ chua. Một gia vị đặc trưng không phải nơi đâu cũng có. Mẻ chua dễ làm, dùng thường ngày và rất ngon…

Nói tới mẻ chua, cô Phạm Thị Lan - trưởng thôn Xuân Tiến cho biết nguồn gốc, xuất xứ của gia vị truyền thống của làng. Cô kể: Xuân Tiến là một làng mới được thành lập sau năm 1954 theo chủ trương của Nhà nước về việc giãn dân. Cư dân 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định lên đây cùng định cư sinh sống từ đó. Nếu như những gia đình ở Nam Định lên định cư còn gìn giữ được truyền thống hát chèo, hát trầu văn và nhiều phong tục khác thì người Hà Nam chúng tôi còn giữ được truyền thống làm món mẻ đặc trưng này của cha ông xưa.

Mẻ là một gia vị dân giã được làm từ gạo. Cách làm mẻ khá đơn giản. Gạo được cho vào nồi nấu như cơm rồi để nguội, dân làng thường gọi là cơm nguội. Còn có một cách là nấu cháo đặc để nguội. Sau đó đem cho vào một cái âu sành hay sứ (còn gọi là hũ mẻ). Cứ để trong âu chừng 5 đến 7 ngày thì gạo nhiễn sánh ra, có màu trắng, vị chua và mùi thơm của cái gạo.

Khi nấu, mẻ được làm nhiễn, gạn lọc chắt lấy nước. Mẻ được dùng nấu canh cá, riêu cua, hay nấu canh chua, ngoài ra trong khi chế biến món thịt chó hay luộc ốc người dân nơi đây không thể quên cho mẻ vào. Trong những ngày trưa hè nóng bức nồi canh rau muống như thơm mát hơn khi có muỗng mẻ cho vào…Ăn mỗi thức ăn chế biến có cho thêm mẻ người ăn thấy được vị thơm, bùi, chua, mát… Tất cả hương vị đó đều được làm ra từ hạt gạo trắng ngần, thân quen hàng ngày và bởi bàn tay khéo léo của cư dân gốc Hà Nam này.

Có thể nói đã từ lâu mẻ đã là một thứ gia vị thân quen trong mỗi bữa ăn của người làng Xuân Tiến. Ở tỉnh Bắc Giang có nhiều nơi dùng mẻ chua làm gia vị, nhưng ở Xuân Tiến mẻ được dùng nhiều và trở thành nét văn hóa. Mỗi gia đình trong làng đều có một lọ mẻ trong nhà. Lọ mẻ được cất giữ và nuôi quanh năm, cứ hết năm này qua năm khác. Muốn giữ được mẻ thơm ngon thì phải nuôi mẻ. Nuôi mẻ bằng cách đổ thêm cơm vào lọ mẻ. Người dân trong làng có câu không ăn thì mẻ cũng chết vì thế nên luôn phải dùng mẻ và nuôi mẻ. Mẻ đã đi vào cuộc sống của người dân nơi đây như một sự tất yếu. Dân làng Xuân Tiến coi trọng mẻ, coi trọng ý nghĩa tinh thần và các món ăn bình dị có sự góp mặt của mẻ. Cư dân nơi đây quan niệm rằng: để âu mẻ trong nhà, nuôi âu mẻ cũng như để điềm may và nuôi dưỡng điềm may đó cho gia đình. Nếu gia đình nào để mẻ chết, không giữ được mẻ là năm đó gia đình làm ăn không thuận, mọi việc đều không như ý muốn. Âu mẻ khi này đã trở thành điềm báo. Cũng bởi quan niệm này, từ xưa cho tới nay, người dân làng Xuân Tiến luôn gìn giữ được truyền thống tốt đẹp của cha ông xưa để lại. Mong nuôi mẻ được tốt, giữ âu mẻ trong nhà như giữ vật lành, mang lại điềm may, xua đi những điều không may mắn cũng là mong giữ lại nếp sinh hoạt, giữ lại những truyền thống của quê hương làng Xuân Tiến. Một nét đẹp văn hoá còn lưu truyền đến hôm nay.

;?>