• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 2529019
  • Số người đang xem: 20
  • Trong ngày: 3018
  • Trong tuần: 3018
  • Trong tháng: 544877
  • Trong năm: 2176796
Trang chủ

Xuân về nghe điệu hát then

( 18:10 | 16/01/2012 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Đồng bào dân tộc Tày - Nùng quan niệm rằng: người làm then là người được các đấng thần linh cử xuống trần gian để làm người cứu nhân độ thế, “then” - “thẻn”  chính là “thiên” - trời; bà then (pà thẻn) chính là người của trời, hình ảnh người hát then với cây đàn tính trên tay được ví như cô tiên cầm đàn ca hát đang bay bổng giữa ngàn mây xanh. Hát then chính là hát theo mây, theo gió “thẻn mấn, thẻn pha”. Người ta rất thành kính bà then bởi vì bà then chính là  linh hồn của bản làng.

Bản Hố Cao thuộc xã miền núi Hương Sơn, huyện Lạng Giang đa phần là người dân tộc Nùng sinh sống. Dường như bản làng heo hút này tách biệt hẳn với cuộc sống bên ngoài, bởi vì tất cả những gì thuộc về văn hóa vật thể cũng như phi vật thể của thời hiện đại hầu như không mấy tác động đến nơi đây. Nhưng có lẽ vì thế mà làn điệu then vẫn giữ được một đời sống riêng của nó từ xưa đến nay. Và người được xem như linh hồn về tâm linh của bản Hố Cao đó là bà then Chu Thị Hồng Vân.

Bà then Vân đã có hai mươi mấy năm làm then, đã được thăng cấp bậc 13 quai, bậc cao nhất trong thang bậc của những người làm nghề then. Hiểu nôm na rằng khi lên đến cấp bậc này, bà then có thể giao tiếp với thần linh một cách nhẹ nhàng, đơn giản…

Đến Hố Cao tìm then Vân, ta sẽ được nghe dân bản kể rất nhiều chuyện về xuất xứ đưa bà đến với nghề làm then. Năm 19 tuổi, một hôm bỗng tự nhiên bà lội xuống hồ sâu không ai bắt lên được, rồi lại trèo tót lên mái nhà không ai bắt xuống được. Theo như lời kể của bà và người nhà thì bà đã bị thánh đày cho điên dại như vậy là vì có căn số làm then. Gia đình phải tìm thày làm lễ cúng và bà Vân đã đi theo học làm then từ một bà then ở Bắc Lệ, Lạng Sơn, từ đó mới hết điên dại.

Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng bấy lâu nay then Vân đã trở thành linh hồn của cả bản Hố Cao này. Hễ trong bản có công việc gì dù lớn dù nhỏ, người ta đều cẩn trọng mời bà đến thắp những nén nhang đầu tiên, vái tạ trời đất, lên dây đàn tính, cất lời hát cho điệu then vang đến tận trời mây.

Hằng năm vào dịp Giêng, Hai, nhiều gia đình trong vùng và cả những vùng lân cận (thường là những nhà có điều kiện) mời then Vân về làm lễ cúng cầu an (Pèng ên). Ngoài ra họ cũng mời bà đến làm then trong lễ cúng sinh nhật (pù sảng lường); cúng nhà mới (án hờn); cúng chuộc hồn (shuộc huồn); cúng tổ tiên (kà sthến)… Bà then sẽ thỉnh với thánh thần, tiên tổ phù hộ độ trì cho gia chủ bình an, ăn nên làm ra, gặp mọi điều tốt lành. Không ai khác ngoài bà then sẽ làm được công việc khó khăn và thiêng liêng này. Người dân ở đây vẫn tin như thế.

Trong lễ cúng cầu an hay còn gọi là cúng giải hạn nhằm cầu lộc, cầu tài cho gia chủ trong cả năm, lời bài hát (tạm dịch) như sau: Có lễ lên tổ tiên cầu an/Lễ lên cầu ông bà nhận cho/Vận hạn gì thì tổ tiên bỏ qua/Ông bà trừ những câu xấu cho, lấy những câu đẹp/Cha mẹ hãy cho gia đình được bình yên/Có lễ lên ông bà tổ tiên bỏ quá cho/Có lễ lên trừ những gì sai sót/Lễ này lên giải hạn hết năm/Con cầu khấn hết  năm nay không có hạn/Cho các con đi xa về gần không gặp quỉ quái/ Ma quỉ gặp trên đường thì tránh xa và không nhập vào người/Những thầy đây vẫn làm chủ/Có các thầy làm chứng…"

Trong lễ sinh nhật của người Nùng (dành cho cha mẹ từ 60 tuổi trở lên để con cái bày tỏ sự hiếu thảo đối với cha mẹ) bài hát có nội dung cũng rất mộc mạc chất phác: "Hôm nay ngày sinh của bố (mẹ)/Con cháu không tiếc tiền của ngân xuyến về đắp kho lương/Có lễ có thiếp cầu lên cho bố (mẹ) được mạnh khoẻ/Có cây dưỡng lão cho bố mẹ được mạnh khoẻ/Có lễ về đây dâng sao, giải hạn, cầu yên, cầu tài, cầu lộc, cầu cho bố mẹ được bốn mùa bình an/Ước gì cũng lên, làm gì cũng được, thóc gạo, của cải đầy nhà…"

Tiếng trầm bổng ngân nga từ cây đàn tính quyện với những lời ca, tiếng hát của then Vân như đưa ta vào một thế giới hư ảo, huyền bí. Người ta vững tin rằng bà then sẽ thỉnh lời cầu xin tới các đấng Thần, Phật, Ngọc hoàng những mong ước của gia chủ. Lời then lúc thủ thỉ, sôi động, lúc lại trầm buồn, ngẫm ngợi. Mỗi đoạn một tâm trạng, một sắc thái. Có khi căng thẳng, lo lắng, có khi hồ hởi, vui tươi, tiếng đàn tiếng hát quyện với nhau lung linh huyền diệu.

Lời hát là câu chuyện kể về chuyến đi gian nan vất vả của một đội quân hùng hậu gồm cả tướng, lính cưỡi ngựa, trang bị vũ khí chuẩn bị cất bước trên chặng đường dài. Thường thường mỗi cuộc làm then phải hết trọn một buổi tối thì đoàn quân sẽ đến đích, gặp thần thánh, gặp Nam Tào - Bắc Đầu xoá hết mọi kiếp nạn của gia chủ sau đó mới khao lễ quay về, kết thúc một buổi làm then. Người hát then Tày - Nùng gần giống như người kể khan của dân tộc Ê Đê ở núi rừng Tây Nguyên, hát từ chương này sang chương khác, hết hồi này đến hồi khác. Con đường đến với thần thánh thật xa cách ngàn trùng mà tương ứng với mỗi một đoạn đường ấy là những cung bậc khác nhau được diễn tả qua lời then: vội vàng gấp gáp khi không may gặp cướp giữa đường; ấm áp, ngọt ngào khi thân phận éo le; khoẻ khoắn, dồn dập khi săn bắt thú rừng; tha thiết, níu kéo khi phải cầu xin người lái đò vượt biển…

Bà Vân cho biết: trong hát then, với mỗi một loại lễ thì các trường đoạn ngắn dài cũng khác nhau. Kèm theo lời hát là những động tác phất quạt, động tác không thể thiếu khi hát then. Qua mỗi một cửa ải phải phát quạt ba lần: lần thứ nhất thỉnh tứ phương, lần thứ 2 thỉnh các thầy ở cửa mây xanh mây trắng, lần thứ 3 chính là biểu tượng cho những tia chớp, tia sét… Việc của gia chủ càng nặng thì tiếng quạt phất càng to. Hỗ trợ cho nghệ nhân hát then là những người đi nhạc ngựa, một nhạc cụ gồm nhiều móc và quả nhạc được làm bằng chất liệu kim loại đồng hoặc sắt. Tiếng nhạc ngựa chính là biểu trưng cho âm thanh đoàn quân chuyển bước. Kết hợp nhịp nhàng với lời hát của người làm then, người đi nhạc ngựa khéo léo điều khiển tiếng nhạc ngựa sao cho phù hợp với mỗi một đoạn đường trong cuộc hành trình gian nan vất vả. Hãy nghe lời hát lúc chuẩn bị đóng binh lính để săn hươu săn nai làm lễ giải hạn: "Chỉnh đốn binh lính/Lấy con nào thưa lông, mượt mà hãy lấy/Săn lấy về đóng thành mâm lễ/Lấy về làm cỗ, đóng 30 mâm cỗ/Lấy về làm cỗ, đóng 90 mâm cỗ/Lấy về để giải hạn/Giải hạn cho con cháu/Vào chợ mượn 30 con chó săn/Mượn 40 mươi con chó rừng nữa/Mượn để về đi săn/Lấy con nào lông thưa, lông mượt/Mượn cho về săn hươu săn nai…”

Lời bài hát khi đến đoạn săn hươu, nai trở nên gấp gáp hơn: "Hãy đội mũ gang/Đội mũ sắt/Vào rừng già săn hươu nai/Khi nào săn được hươu nai hãy về/Các chị các bà thêm các em giục ngựa nhanh theo quan/Các em mau giục binh theo bác/Vào trong rừng già không sợ gì/Bước chân vào quả đồi thứ nhất/Chưa thấy vết chân hươu ở đâu/Bước chân vào quả đồi thứ hai/Cũng chưa thấy vết chân hươu.../Phải đi theo lốt chân nó/Cứ đi theo đường lối đó/Đến quả đồi thứ 12 đã nhìn thấy con nai/Con nai trốn ở trong búi giàng giàng/Phải nhằm cho chính xác/Phải nhằm cho trúng/Lấy dây buộc cho chắc/Binh lính khiêng hươu về đến cây đa đầu chợ/Làm 30 mâm cỗ…”.

Cứ thế, những lời then tiếp nối không dứt, bà then đại diện gia chủ tiếp cận với thần linh, đến tận 11, 12 giờ đêm rồi tràn qua hết đêm đến sáng. Khi nghe then Vân hát, người ta có thể mường tượng ra cả vùng đất này vốn xưa toàn là những cánh rừng bao bọc rậm rạp um tùm, có nhiều cây gỗ quí như: đinh, lim, sến, táu… Người ta cũng như được sống lại không khí của buổi hồng hoang, khi con người và thiên nhiên vạn vật sống giao hòa với nhau thật gần gũi thân thiết, tất thảy mọi cỏ cây hoa lá và muông thú đều có linh hồn.

Then Vân cho rằng khi thánh nhập, lời hát cất lên là lúc linh hồn bà bắt đầu  bay theo mây theo gió. Vì thế bà không thể nhớ nổi tất cả lời các bài hát khi không làm lễ then, không có thánh nhập. Đây quả là điều bí ẩn đối với chúng ta. Điều này cũng từng là trở ngại đối với các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trong cái tham vọng muốn có đầy đủ, hệ thống các làn điệu hát then trong những đợt đến khảo sát, điều tra văn hóa phi vật thể nơi này. Nhưng đối với dân bản thì điều đó chẳng quan trọng. Miễn là khi mùa xuân đến, khi hoa mận, hoa mơ lại nở trắng rừng, họ lại được thưởng thức những làn điệu then tài hoa, bay bổng. Âm thanh của cây đàn tính, của điệu hát then trong những nghi lễ của dân bản như dòng suối chảy mãi từ mùa xuân này tới mùa xuân khác, từ mùa lúa này tới mùa lúa khác và từ thế hệ này sang thế hệ khác./.

Vân Hồng

;?>