• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4301197
  • Số người đang xem: 27
  • Trong ngày: 3972
  • Trong tuần: 38358
  • Trong tháng: 468954
  • Trong năm: 3948974
Trang chủ

Đình Liên Bộ - nơi thờ Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh

( 18:58 | 16/01/2012 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Liên Chung là một vùng đất chiêm trũng kề bên dòng sông Thương thơ mộng. Nơi nổi tiếng có sâm Nam núi Dành, có đặc sản tôm cá nhiều vô kể. Không chỉ vậy, nơi đây còn là vùng đất giàu truyền thống hiếu học từ bao đời nay. Một người con ưu tú đã có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước, đó là Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh -người được thờ trong đình làng Liên Bộ.

Là người con của quê hương Tân Yên, đã nhiều lần tôi được nghe kể về Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh - một trong số 4 tiến sĩ thời phong kiến của vùng đất Yên Thế hạ nhưng chưa có dịp về quê hương ông để tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của ông. Vào một ngày trời thu mát mẻ, chúng tôi cùng với đoàn khảo sát của Ban Quản lý di tích tỉnh về thôn Liên Bộ, xã Liên Chung để nghiên cứu, tìm hiểu về ngôi đình cổ Liên Bộ và vùng đất, con người nơi đây. Qua đó, chúng tôi được nghe các cụ cao niên kể lại những câu chuyện về Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh để khẳng định những thông tin mình được nghe là xác thực.

Đến Liên Bộ, được nghe cụ Vũ Văn Trương (86 tuổi) kể về chuyện làng mình và ngôi đình làng-nơi thờ Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh với tấm lòng chân thành và mến khách. Làng Liên Bộ cũng như nhiều thôn làng khác trong xã Liên Chung, quanh năm chỉ cấy một vụ lúa, một vụ màu xen canh nên cuộc sống còn nhiều vất vả lắm. Cây màu nổi tiếng được trồng ở đây là cây hành, tỏi chuyên cung cấp cho các vùng lân cận và Hà Nội nhưng cuộc sống vẫn không thay đổi là bao. Kinh tế eo hẹp, lại ở xa trung tâm huyện, nằm sát bờ sông Thương, đường xá đi lại khó khăn, nên việc mở mang giao lưu kinh tế, văn hoá còn bó hẹp. Ấy vậy mà trong thời kỳ khó khăn đó lại nổi lên người con của quê hương đỗ đạt cao, làm quan trong triều đình. Đó là điều rất đáng tự hào để các thế hệ mai sau học tập, theo gương. Người làm quan trong triều nhà Mạc năm ấy là Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh.

Theo sách Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919) do Ngô Đức Thọ chủ biên, NXB văn học, 1993, trang 414 ghi rằng: Nguyễn Vĩnh Trinh, người xã Liên Bộ, huyện Yên Thế. Nay thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Hà Bắc. Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Vĩnh Định thứ nhất (1547) đời Mạc Phúc Nguyên, đỗ năm 35 tuổi. Làm quan đến chức Thượng thư, về trí sĩ. Khi mất được tặng hàm Thiếu bảo, tước hầu.

Theo nội dung sách Đăng khoa lục Kinh Bắc tập 1 (trang 141) ghi rằng: Nguyễn Vĩnh Trinh đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (xếp thứ 13). Ông người xã Liên Bộ. 35 tuổi đỗ Tiến sĩ, từng phụng mệnh đi sứ, làm quan đến Thượng thư khi về trí sĩ tặng Thiếu bảo, tước hầu.

Đến khi ông về quê dưỡng tuổi già, ông đã có nhiều đóng góp cho nhân dân quê hương Liên Bộ trong việc giúp dân sửa đình, chùa và sản xuất nông nghiệp. Khi ông mất, để tỏ lòng kính trọng người có công với quê hương, với triều đình nhà Mạc, ông đã được nhân dân Liên Bộ tôn làm Thành Hoàng làng và thờ ở trong đình cùng với các vị thần khác.

Đình Liên Bộ xưa được xây dựng với quy mô rộng lớn, có nhiều tài liệu, hiện vật quý, song đến thời kỳ Hợp tác xã những năm 1960, bộ khung toà tiền tế đình được chuyển sang làm kho Hợp tác xã ở giữa làng. Một số hiện vật bị thất lạc, hư hỏng, số khác như tấm bia đá xanh quý lại được người dân đem ra kê ở giữa đường  làm mặt rãnh cống tát nước, các chữ khắc trên bia theo năm tháng bị mờ mòn. Song cũng không vì thế mà trách móc người dân địa phương vì khi đó còn đang chiến tranh; nhà nhà, người người còn phải lo cơm áo gạo tiền, mấy ai biết được giá trị của tấm bia đá này. Song cũng rất may cho tấm bia trước khi bị bào mòn hết chữ đã được ông Vương Thành Giao-nguyên cán bộ của Sở Văn hoá-Thông tin Hà Bắc (nay là Sở VHTT&DT Bắc Giang) sưu tầm ghi chép lại phiên âm và dịch nghĩa nội dung tấm bia đó tóm lược như sau:

Nguyễn Vĩnh Trinh quê quán xã Liên Bộ, tổng Quế Nham, huyện Yên Thế, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc. Gia truyền lấy canh nông làm gốc, đầy đủ. Nguyễn Vĩnh Trinh được học nhiều năm thông minh tài trí, học lực hơn người. Lúc ấy, triều Mạc mở khoa thi tuyển chọn kẻ sĩ, tức thì Nguyễn Vĩnh Trinh về kinh đô tham dự. Văn chương hoạt bát, đối đáp trôi chảy, thi đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1547) niên hiệu Vĩnh Định, đời vua Mạc Phúc Nguyên. Nhận được sắc chỉ vào triều, chấp kinh hành pháp, ngày đêm tận tình giúp nước phò dân, thái độ khoan hoà, nghiêm túc, được triều Mạc phong phẩm trật Thượng thư. Vốn là người anh minh chính trực, được trăm quan trong triều cảm phục. Sau này, về nghỉ hưu tại xã Liên Bộ, nhiệt tình giúp dân xây dựng đình chùa, được nhân dân trên dưới hết lòng kính phục. Khi mất lại được Mạc triều phong chức Thái bảo, tước hầu(…). Nguyễn Vĩnh Trinh có đức tính khiêm nhường, ngay thẳng, được nhân dân kính trọng tôn sùng, cùng dựng bia ghi công lao đức độ của ông thờ cúng mãi mãi.

Mặc dù bia bị mờ mòn chữ song căn cứ vào kiểu dáng, đặc điểm bia, chúng tôi có thể xác định đây là tấm bia đá xanh có kiểu dáng giống như bia Tiến sĩ được lưu giữ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội. Mặt khác căn cứ vào nội dung một số tài liệu ghi về công trạng của Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh xưa kia được khắc ghi vào bia đá. Vì vậy, từ đó chúng tôi có thể xác định đây là tấm bia có niên đại khoảng thế kỷ XVI-XVII.

Như vậy, qua tra cứu một số nguồn tư liệu cho thấy các nguồn tư liệu đều khẳng định thời Mạc niên hiệu Vĩnh Định thứ nhất có mở khoa thi Hội, trong đó có sách Các Nhà khoa bảng Việt Nam nói rõ Nguyễn Vĩnh Trinh đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1547) là đúng với thực tế. Vậy nguồn tài liệu dịch nghĩa từ tấm bia đá xanh (nay đã mờ mòn chữ) còn lưu giữ ở đình Liên Bộ từ khi ông Vương Thành Giao là trùng hợp với các tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được để khẳng định Nguyễn Vĩnh Trinh là một con người có thực ở làng Liên Bộ, xã Liên Chung, huyện Tân Yên (trước là xã Liên Bộ, huyện Yên Thế). Nguyễn Vĩnh Trinh đã được nhân dân địa phương tôn làm Thành Hoàng thờ ở đình Liên Bộ cùng với các Đức Thánh Cao Sơn- Quý Minh Đại Vương và Lâm Giang Đô Thống.

Đình Liên Bộ ngày nay được xây dựng theo bố cục hình chữ đinh gồm tiền đình và hậu cung. Toà tiền đình gồm 5 gian, tường xây bít đốc. Mái lợp ngói mũi. Đỉnh mái được đắp hình lưỡng long chầu nguyệt. Phía trước hai tường hồi được tạo bởi hai cột đồng trụ, trên đỉnh cột đắp hình đôi sấu chầu. Về nghệ thuật điêu khắc toà tiền đình được chạm khắc các đề tài là hoa lá, vân mây cách điệu, đề tài cây tùng trong bộ tứ quý.

Vào trong là toà hậu cung gồm hai gian, hai dĩ, với các cột đều bằng gỗ lim. Kết cấu vì theo kiểu chồng rường. Về điêu khắc hậu cung được chạm khắc ở vì ngoài cùng bao gồm các con chồng chồng khít lên nhau tạo ra các mảng chạm khắc đề tài mặt hổ phù, rồng mây, hoa cúc.

Trong đình Liên Bộ hiện nay còn lưu giữ được một số tài liệu bằng Hán-Nôm tấm bia đá gan gà có niên hiệu Gia Long thứ 5 (1806). Bia ghi về việc Hậu thần. Câu đối ca ngợi công lao to lớn của người xưa được lưu truyền mãi mãi.

“Vạn cổ anh hùng lưu tích sử

Liên Bộ kế thế bảo tồn thư”

Dịch nghĩa:

Bậc anh hùng muôn thủa còn lưu truyền trong lịch sử

Liên Bộ trải qua các đời được giữ gìn trong sử sách.

Ngoài ra ở đình Liên Bộ nay còn lưu giữ được một số hiện vật quý từ thời Nguyễn (thế kỷ XIX) có giá trị lịch sử, văn hoá, mỹ thuật như ngai thờ, bài vị, bát hương gốm Phù Lãng… Hàng năm, đình Liên Bộ có hai ngày lệ chính: ngày 8 tháng Giêng, ngày 13 tháng 8 âm lịch. Trong ngày hội, ngoài phần lễ cúng tế Thành Hoàng, nhân dân còn tổ chức các trò chơi dân gian độc đáo, thu hút đông đảo du khách tham dự như trò đấu vật, chơi đu, đập niêu…

Như vậy, qua tìm hiểu những gì còn lưu giữ được về người được thờ ở đình Liên Bộ tuy là ít ỏi song đã cho ta thấy Nguyễn Vĩnh Trinh là một trong số 4 Tiến sĩ thời phong kiến của huyện Tân Yên đã có nhiều công lao đóng góp làm rạng danh cho quê hương, cho việc xây dựng vương triều nhà Mạc và đã được lịch sử ghi nhận. Là một người con của quê hương, tôi nghĩ mình cần phải có trách nhiệm hơn nữa để gìn giữ, bảo vệ và phát huy những nguồn di sản văn hoá quý báu này lưu truyền mãi mãi.

Dương Thị Ánh

;?>