• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3757143
  • Số người đang xem: 17
  • Trong ngày: 5099
  • Trong tuần: 27495
  • Trong tháng: 461627
  • Trong năm: 3404920
Trang chủ

Đền Phủ - nơi tôn thờ bà chúa Kho thời Trần

( 18:05 | 10/05/2012 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Nằm ngay tại trung tâm thành phố Bắc Giang, đền Phủ thực sự trở thành một điểm đến lý tưởng của nhiều du khách trong dịp đầu xuân mới này. Ngay từ những ngày đầu năm, không khí tấp nập đã diễn ta tại khu vực di tích, điều này càng làm tăng thêm giá trị của di tích đền Phủ, thuộc địa phận phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang.

Theo các cụ cao niên trông coi, quản lý đền cho biết, đền Phủ hay còn được gọi là đền Bà Chúa Kho. Đây là một di tích có lịch sử từ lâu đời. Trải qua thời gian, di tích đã có nhiều đổi thay về quy mô kiến trúc. Song giá trị lịch sử-văn hóa của di tích thì còn mãi với thời gian và đọng lại trong lòng mỗi người dân thành phố Bắc Giang xưa cũng như nay.

Ngược dòng thời gian trở về những năm trước đây, đền Phủ được xây dựng ngay bên thành phủ Lạng Giang, thuộc xã Châu Xuyên, tổng Thọ Xương, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc. Khi đó, đền Phủ có quy mô bề thế, bố cục mặt bằng theo kiểu nội công ngoại quốc gồm có tiền tế 5 gian và toà hậu cung. Phía trước tiền sảnh được xây dựng 2 tòa gác chuông ở 2 bên. Trong đền có tượng Bà Chúa Kho, tượng Tiên Đồng, Ngọc Nữ bằng gỗ sơn son thếp vàng lộng lẫy. Trước khoảng sân rộng là nghi môn, kiến trúc công phu, tiếp đến là ao sen to. Đặc biệt phía Nam đền có một cây xanh rất to, cành rễ toả rộng cả một vùng, tán cây che kín tới 3-4 phần khu đền, cò vạc thường kéo nhau về trú ngụ. Trải qua bao sự biến thiên của lịch sử, một thời gian dài ngôi đền được sử dụng vào mục đích khác nhau. Đến năm 2008, đền được trao lại cho nhân dân địa phương để phục hồi thờ phụng. Được sự ủng hộ phát tâm công đức của nhân dân đến nay, ngôi đền đã phục hồi, trở nên khang trang với quy mô, dáng vẻ nhỏ hơn xưa, nằm ở cuối đường Nguyễn Văn Cừ. Việc đánh giá di tích đền Phủ không chỉ nhìn vào quy mô kiến trúc, vẻ bề ngoài mà phải đi sâu tìm hiểu phần giá trị nội tại bên trong đó. Có như vậy mới thấy hết được giá trị lịch sử lớn lao của di tích.

Đến nay, qua tìm hiểu một số tài liệu và sự hiểu biết của một số cụ cao niên trong di tích cho thấy, nơi đây vẫn còn lưu được những câu chuyện dân gian về sự tích của Bà Chúa Kho. Câu chuyên kể lại rằng:

Vào đời nhà Trần có một người tên là Lý Quýnh quê gốc ở làng Cổ Pháp (nay là làng Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) làm chức Điện Hộ binh lương, chuyên việc giữ kho tàng cho quân lính. Đội quân này đóng ở kinh thành Thăng Long nên Lý Quýnh cũng ở lại đó và lấy thêm một người vợ ở làng Giảng Võ. Vợ trước của ông là bà Trần Thị Đoan bị mất sớm để lại hai người con trai. Ông lấy người vợ thứ là Nguyễn Thị Duyên được một người con gái đặt tên là Lý Thị Châu, cũng gọi là Châu Nương. Châu Nương lớn lên có tài có sắc, được cha cho theo học ở phường Bích Câu. Cô cũng thường giúp cho cha việc sổ sách kho tàng hàng ngày, lâu dần cô quen thuộc cách thức và thông thạo mọi việc. Tiếng đồn cô gái thông minh, nhanh nhẹn đảm đang ngày càng lan rộng. Nhiều người ngấp nghé cầu hôn, nhưng cô chưa nhận lời ai thì bố mất. Lúc đó cô mới mười tám tuổi. Hết tang cha năm hai mươi hai tuổi cô mới lấy một viên quan họ Trần tước Thái Bảo, làm chức Đốc Bộ ở Hoan Châu (Nghệ Tĩnh). Hai vợ chồng rất tâm đắc.

Giặc Nguyên Mông đang bành trướng thế lực xuống phía Nam. Chúng đòi nước ta phải đầu hàng, cho chúng mượn đường. Vua Trần không chịu. Giặc vừa tìm cách xâm lăng biên giới phía Bắc vừa đem quân vào Chiêm Thành rồi từ đó ra cướp phá Châu Hoan. Trần Thái Bảo được lệnh đem quân chống giặc. Song thế giặc rất mạnh, uy hiếp cả phía Nam và vây chặt thành Hoan Châu (lúc này đặt ở vùng đất huyện HưngNguyên bây giờ). Thái Bảo phải rút lui về Diễn Châu để củng cố lực lượng. Bà Châu Nương khuyên chồng sắp đặt trận thế và chặn giặc ở tiền phương, còn mình tự nguyện lo lắng việc chỉ huy quân phòng ngự bảo vệ kho tàng. Giặc mấy lần tập kích vào Diễn Châu đều không sao phá được thành. Kho tàng vẫn được bảo vệ chu đáo và việc tiếp tế cho quân sĩ cũng được bà lo liệu đầy đủ. Cũng chính đợt này, Châu Nương đã từng cải trang thành nam giới để đốc xuất tướng sĩ chống trả mãnh liệt, khiến cho quân địch không những không tài nào phá nổi thành mà còn bị hao binh tổn tướng. Thành trì vẫn được Châu Nương bố trí canh phòng cẩn mật. Thái Bảo yên tâm chuẩn bị phản công. Ông lập mẹo chia quân từ trong thành đánh ra, từ Diễn Châu đánh vào làm cho giặc phải bỏ chạy rút về Đèo Ngang thuộc châu Bố Chánh (Quảng Bình). Trong trận này quân ta đã chém được mười tướng giặc, bắt sống hàng nghìn quân lính, thu sáu thớt voi và khí giới thì nhiều vô kể.

Tin thắng trận báo về, vua Trần rất khen ngợi. Hai vợ chồng quan Thái Bảo được triệu về kinh. Thái Bảo nhậm chức Tiền quân vực thánh, là chức coi sóc đạo quân bảo vệ nhà vua và bảo vệ kinh thành. Còn Châu Nương thì nhận nhiệm vụ coi kho phủ Phụng Thiên.

Trước tinh thần kiên cường đánh trả của quân ta, giặc Nguyên vô cùng tức tối. Chúng sử dụng một đội quân đông và mạnh, lại sai những viên tướng rất kiệt hiệt dưới quyền chỉ huy của Thái tử Thoát Hoan ào ạt kéo sang. Vua quan nhà Trần lập kế bảo tồn lực lượng, cho quân ta rút khỏi kinh đô Thăng Long. Thái Bảo phải chặn giặc ở phía sông Hồng. Ông đã cầm cự với giặc rất nhiều ngày để quân ta rút lui được an toàn, nhưng cuối cùng kiệt sức và tử trận.

Nghe tin chồng chết,Châu Nương khóc lóc thảm thiết. Bà cố nén đau thương để làm tròn nhiệm vụ của mình. Giặc đã vào sâu trong kinh đô, chưa thể nào cản nổi. Bà lập tức sai quân chôn giấu của cải khí giới và phân phát những thứ khác về các nơi để kho tàng khỏi rơi vào tay giặc. Bị giặc vây bắt, bà đành lấy cái chết để báo đền ơn nước, trọn nghĩa với chồng, Châu Nương đã anh dũng đứng trước cửa kho rồi lấy khăn hồng phủ lên mặt mà hoá. Những quân sĩ coi kho còn sống sót trong cuộc chiến hôm đó kể lại mấy chuyện sau khi Châu Nương đã hoá. Khi bà ngã xuống, tự nhiên chiếc khăn hồng mà bà dùng để phủ mặt bỗng rơi ra, rồi theo một luồng gió bay vút thẳng lên trời. Chiếc khăn bay mãi về đến làng Giảng Võ, là nơi sinh ra bà thì hạ xuống. Và khi kho tàng thất thủ, mấy tên giặc Nguyên hùng hổ xông vào thì từ trong kho bỗng lao ra một con rắn lớn phun nọc phì phì v dữ tợn. Giặc hốt hoảng phải vội vàng bỏ chạy. Mọi người ai cũng đều tin rằng hồn phu nhân đã nhập vào chiếc khăn để bay về nơi sinh quán, đồng thời lại sai khiến rắn thần ra uy hiếp giặc Nguyên.

Khi giặc Nguyên bị quét sạch, nhà vua bình công khen thưởng đã truy tặng Châu Nương chức “Quản trưởng Quốc khố Công Chúa” (bà chúa giữ kho của quốc gia), chuẩn cho các nơi lập đền miếu thờ bà trong đó có đền Phủ-Bắc Giang.

Qua câu chuyện kể về sự tích của Bà Chúa Kho ở đền Phủ cho thấy, bà là người phụ nữ đảm đang, có nhiều công lao trong việc quản lý kho lương góp phần giúp nhà Trần đánh thắng quân giặc Nguyên Mông, đem lại bình yên cho nhân dân Đại Việt. Với những công lao ấy, bà được nhân dân Bắc Giang ghi nhớ, tôn thờ trong đền Phủ. Hiện trong đền còn giữ được pho tượng chân dung Bà Chúa Kho.

Hàng năm để tưởng nhớ công ơn to lớn của Bà Chúa Kho, nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ hội lớn tại di tích đền Phủ vào ngày 11 và 12 tháng 2 âm lịch.  Đây được coi là ngày lễ tưởng nhớ đến ngày sinh của Bà Chúa. Ngoài ra còn có lễ tưởng nhớ ngày hóa của Bà Chúa vào 20 tháng 7 âm lịch. Tuy nhiên, ngày lễ này có quy mô nhỏ, chỉ có dân sở tại tổ chức các nghi thức tế lễ, dâng hương thường có mà không tổ chức lớn. Lễ hội chính vẫn được coi là lễ hội xuân vào tháng 2, trong những ngày hội này, nhân dân trong khu vực, cùng du khách thập phương đều về đền thật đông đúc làm lễ tế trang nghiêm và vui hội.

Theo ký ức của người dân nơi đây, xưa hội đền Phủ được tổ chức dài từ tháng 2 đến hết tháng 3 âm lịch, vì theo quan niệm người dân cho rằng “Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ”. Khách ở khắp các nơi về dự hội rất đông, các đoàn rước từ ngã tư nhà thờ đạo kéo dài về tới đền Phủ. Phần lễ dâng lên kính Bà Chúa được quy định phải có một con lợn quay và một cỗ xôi trắng to để lên bàn khênh vào chính điện. Lễ là do nhà đền sắm. Các đoàn về dự hội cũng sửa lễ lợn quay và xôi trắng. Lễ xong, mâm lễ được tán cho dân thụ lộc. Ngoài phần lễ tế, ở ngoài khu vực hội phía xung quanh đền đều có các trò chơi như: Múa rối nước ở ao rối, có hai chải bơi ở ao để bơi thi, có cờ người, cờ tướng, đu, vật, trống bỏi, chọi gà, kỳ lân đấu võ, kéo co, múa rồng…Buổi tối ở đền tổ chức hát ca trù, trống quân, có các giá đồng…thu hút rất đông người tham dự.

Ngày nay do nhiều lý do nên hội đền Phủ được tổ chức đơn giản, gọn nhẹ hơn. Song các nghi lễ, hình thức tế vẫn phải đầy đủ theo quy định nhằm tôn vinh vị nữ thần có công với dân, với nước. Đồng thời giáo dục các thế hệ con cháu phải biết ghi nhớ công trạng của những bậc tiền nhân đã hy sinh thân mình cho sự bình yên của đất nước./.

Lương Hàn Mai

;?>