• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4513318
  • Số người đang xem: 17
  • Trong ngày: 4572
  • Trong tuần: 44610
  • Trong tháng: 681075
  • Trong năm: 4161095
Trang chủ

Bảo tồn và phát huy quan họ bờ bắc sông Cầu

( 18:40 | 10/05/2012 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Dân ca quan họ được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Vùng dân ca ấy có sự gắn kết hàng nghìn năm trên cùng một địa vực hành chính với các tên gọi khác nhau: Bắc Giang lộ, Như Nguyệt Giang lộ (1010-1225 thời Lý, Trần), Bắc Đạo, Kinh Bắc xứ (1427-1802 thời Lê sơ, Lê -Trịnh, Tây Sơn), Bắc Ninh trấn (thời Nguyễn). Thời Minh Mệnh đổi trấn Kinh Bắc thành Bắc Ninh trấn, đến năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh (thời Nguyễn), được tách làm 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang vào năm 1895. Năm 1962, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hợp nhất 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc. Ngày 6/11/1996, Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại quyết định tách tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.

Như vậy để hiểu rõ về văn hóa quan họ, không thể tách rời yếu tố văn hóa vùng và không gian văn hóa đã từng tồn tại và gắn kết hàng nghìn năm. Đó là vùng văn hóa Kinh Bắc.

Tuy nhiên, do điều kiện xã hội, sự phát triển về kinh tế giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang và yếu tố phân chia, quản lý hành chính, có ảnh hưởng đến sự phát triển và bảo tồn di sản văn hóa mà chúng ta có thể đặt vấn đề nghiên cứu quan họ ở cả hai địa bàn: Nam sông Cầu (Bắc Ninh), Bắc Sông Cầu (Bắc Giang). Nhưng với các tiêu chí làng Quan họ, lề lối, phong tục… thì không thể khác. Có khác chăng là ở việc bảo tồn, phát triển quan họ thế nào ở Bắc và Nam sông Cầu.

Trong những năm 1970-1971, các nhà nghiên cứu đưa ra con số 49 làng quan họ, dựa trên các cuộc điều tra, phỏng vấn các nghệ nhân ở cả 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Để đến hội nghị khoa học về quan họ tháng 5-1971 danh sách 49 làng quan họ (Bắc Ninh 44 và Bắc Giang 5) được công bố chính thức và từ đó đến năm 2009 khi lập hồ sơ trình UNESCO vẫn con số 49 làng Quan họ. Trên thực tế thì số làng Quan họ ấy và ở rất nhiều làng quan họ khác chưa được đưa vào danh sách cũng đã ngừng hoạt động tới 50 năm. Chứng minh điều đó bằng thực tế những năm 1990 và cụ thể 1991 khi Sở Văn hóa-Thông tin Hà Bắc tổ chức Hội thi Quan họ ở cả hai lĩnh vực: Hát đối đáp và hát hay, thì ở cuộc thi hát đối đáp không có làng nào và không có anh hay chị hai nào tham dự. Do sự khuyến khích của Ban tổ chức mãi tới mùa xuân 1992 và từ 1993 mới có cặp dự thi hát đối, giữa anh hai Thổ Hà với các chị hai ở các làng thuộc Bắc Ninh.

Về các làng quan họ ở Bắc Sông Cầu, theo điều tra nghiên cứu của nhạc sĩ Hồng Thao và nhà nghiên cứu Trần Linh Quý, phỏng vấn các nghệ nhân sinh vào thập kỷ 90 của thế kỷ XIX và thập kỷ đầu thế kỷ XX, các cụ cho biết từ khi còn nhỏ đã theo bố mẹ, ông bà đi hát, cuộc hát giữa quan họ Hữu Nghi, Giá Sơn, Nội Ninh, Mai Vũ với các làng Hữu Chấp, Viêm Xá, Xuân Ái, Đặng Xá v.v…Ngược lại các anh hai, chị hai ở Sen Hồ, Trung Đồng, Mai Vũ trong các dịp hội làng. Qua các đợt điều tra chưa được mở rộng ấy mà đến năm 1971 các ông đưa ra danh sách 5 làng quan họ ở Bắc Sông Cầu là: Mai Vũ, Sen Hồ, Nội Ninh, Giá Sơn, Hữu Nghi.

Về thực tế, quan họ bờ Bắc Sông Cầu không phải chỉ có 5 làng quan họ, nói cho chính xác thì các nhà nghiên cứu mới điều tra, phỏng vấn ở 5 làng đó, còn các làng khác chưa có điều kiện xác định rõ ràng hơn. Qua cuộc điều tra nghiên cứu 13 làng ở Việt Yên vào năm 2004 do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam và Sở Văn hóa-Thông tin Bắc Giang, ông Trần Linh Quý mới khẳng định lại việc công bố năm 1971 có 49 làng quan họ (Bắc Ninh 44, Bắc Giang 5 là chưa thỏa đáng). Minh chứng điều này là năm 1993 tại thị xã Bắc Ninh, Hội thi hát đối đáp quan họ Thổ Hà được giải Nhì, 3 giải A về giọng hát hay (hát đôi và hát đơn quan họ) tại cuộc thi hát quan họ toàn tỉnh Hà Bắc tại thị xã Bắc Ninh. Mặc dù năm 1997 hai tỉnh Bắc Ninh-Bắc Giang được tái lập, Quan họ Thổ Hà vẫn đăng ký tham gia thi tại tỉnh Bắc Ninh, năm ấy đạt 5 giải A trong 10 giải A ở vòng chung kết thi giọng hát hay toàn tỉnh Bắc Ninh. Trong khi đó Thổ Hà và nhiều làng khác cũng có gốc quan họ như Thổ Hà lại không được đưa vào danh sách các làng quan họ Bắc Sông Cầu.

Kết quả điều tra năm 2004-2005 ở Việt Yên theo tiêu chí công nhận làng quan họ thì 13 làng nằm trong kế hoạch điều tra thì cả 13 làng đều đạt tiêu chí ấy. 13 làng mới và 5 làng cũ là: Giá Sơn, Hữu Nghi, Nội Ninh, Mai Vũ, Sen Hồ, Thổ Hà, Đình Cả, Đông Long, Trung Đồng, Quang Biểu, Yên Ninh, Thần Chúc, Thượng Lát, Khả Lý Thượng, Núi Hiểu, Tam Tầng, Vân Cốc. Năm 2010 tại Ngày hội Văn hóa vùng Đông Bắc và Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Giang lần thứ IV tổ chức tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, UBND tỉnh Bắc Giang đã quyết định sao Bằng công nhận dân ca quan họ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại của UNESCO cho 18 làng quan họ ở huyện Việt Yên. Từ đó, việc bảo tồn dân ca quan họ ở các làng khởi sắc và hoạt động sôi nổi hơn. Tại trung tâm huyện Việt Yên và Hội chùa Bổ Đà Hội hát quan họ hàng năm được liên tục tổ chức, huyện Việt Yên đã tổ chức Hội hát lần thứ 12 (năm một lần) và Hội thi quan họ tỉnh Bắc Giang (2 năm một lần).

Năm 2012, tại Hội thi huyện có 50 làng quan họ đăng ký tham gia ở cả hai thể loại hát đối đáp và hát hay. Hội thi tỉnh cả 10 huyện thành phố tham dự hát thi. Do sự phát triển mạnh của phong trào, từ năm 2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo và hướng dẫn, hội thi hát quan họ huyện sẽ tổ chức 2 năm một lần, để các xã và cụm xã tự tổ chức 1 năm một lần tại cơ sở. Như vậy việc chuyển hướng chỉ đạo để các làng tập trung khai thác, bảo tồn sâu hơn về lề lối hát, phong tục chơi quan họ, văn hóa quan họ đi vào chiều sâu, đặc biệt chú ý tới việc kết chạ, kết bạn quan họ, hát đối, hát canh; Hát hội (hát vui, hát thi); Hát đối; hát cầu đảo, hát giã bạn, hát mừng.

Thực tế hiện nay cho thấy, vấn đề khai thác bài bản cho hát đối, hát canh còn hạn chế, số người, đặc biệt là lớp trẻ chưa thật say mê và các nghệ nhân truyền dạy tuổi đã cao, vì vậy đây là vấn đề cần đặc biệt chú ý, quan tâm thường xuyên. Lề lối hát thờ, hát cầu đảo, hát kết chạ ít được đề cập. Phong tục giao lưu quan họ (tục kết chạ, tục rủ bạn) ở các làng sao nhãng dần, trang phục quan họ: khăn, áo, mũ, bao, thắt lưng, giày dép sử dụng còn tùy tiện chưa đúng với truyền thống của cha ông. Tiệc quan họ, tiệc mặn, tiệc ngọt, giao tiếp quan họ cũng rơi vào tình trạng đại khái xuề xòa… Văn hóa quan họ, dân ca quan họ là sự kết tinh, thăng hoa vượt lên một trình độ mới so với các loại hình dân ca khác, do vậy việc khai thác, bảo tồn và phát triển cần được dựa vào quy tắc nghệ thuật, và phát triển phải hết sức thận trọng có như vậy chúng ta mới giữ gìn được cái hay, cái đẹp của quan họ trong cơ chế thị trường mở cửa giao lưu với quốc tế hiện nay./.

Ngô Văn Trụ

;?>