• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4513233
  • Số người đang xem: 19
  • Trong ngày: 4487
  • Trong tuần: 44525
  • Trong tháng: 680990
  • Trong năm: 4161010
Trang chủ

Ấn tượng từ một chuyến đi biển đảo Cù Lao Chàm

( 19:20 | 10/05/2012 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Sau những ngày dự Hội nghị “Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền  cổ động trực quan tại cơ sở” và tập huấn thông tin về biển đảo do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tại Đà Nẵng, Ban tổ chức tổ chức một chuyến đi thực tế cho những người làm công tác quản lý văn hóa và những chiến sĩ thông tin về các vùng miền núi và hải đảo ở miền Trung. Hơn 400 đại biểu và các tuyên truyền viên được chia thành các đoàn về cơ sở: đoàn đi bán đảo Sơn Trà, đoàn đi Bà Nà, đoàn xuôi Quảng Nam về phố cổ Hội An, đoàn đến khu di tích Mỹ Sơn… Đoàn Bắc Giang và các đoàn ở các tỉnh miền núi vinh dự được vượt biển ra Cù Lao Chàm. Đi thực tế đợt này là một cuộc tập huấn chuẩn bị cho đợt tuyên truyền về biển đảo, về xây dựng nông thôn mới và ngày thương binh liệt sỹ ở 3 khu vực: các tỉnh phía Bắc tổ chức ở Móng Cái (Quảng Ninh), các tỉnh miền Trung ở Nha Trang (Khánh Hòa) và các tỉnh miền Nam ở đất mũi Cà Mau.

Cơn bão số 1, cơn bão sớm đầu tiên đã đi qua, Đà Nẵng bừng lên ánh nắng, thành phố nhộn nhịp thanh bình, thời tiết đẹp tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi ra đảo lần này. Đúng 8 giờ sáng ngày 5/4/2012, các đoàn xuất phát từ khách sạn công đoàn Thanh Bình đi các vùng miền. Đoàn Bắc Giang đi về Cửa Đại- Hội An rồi vượt biển Cửa Đại đi Cù Lao Chàm. Ngày biển lặng, du khách ra đảo đông hơn nên chúng tôi cập bến thì các thuyền, tàu đã vượt biển ra khơi, duy chỉ còn chiếc tàu gỗ của người dân buôn bán từ đất liền ra đảo đã kín người. Một cuộc làm việc chớp nhoáng với lãnh đạo khu du lịch sinh thái Cù Lao Chàm. Được biết đây là đoàn đi làm nhiệm vụ tuyên truyền do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức, các anh lãnh đạo khu du lịch đã đặc cách bố trí một chiếc tầu cao tốc 40 chỗ ngồi, dành cho 5 người ở đoàn Bắc Giang và một nhà sư ra Hải Tạng Tự chuẩn bị làm lễ cầu siêu trên đảo. Hướng dẫn viên du lịch Hoàng Quốc Hạnh và 2 thủy thủ cùng chúng tôi lướt biển ra đảo, gió biển hiu hiu, sóng biển rập dồn, tâm hồn ai cũng thoải mái vui vẻ. Từ Cửa Đại ra đảo không xa, chỉ 10 hải lý – tính ra chỉ có 18 km, sau 30 phút lênh đênh lướt sóng, Cù Lao Chàm đã hiển hiện ra trước mắt. Đặt bước chân đầu tiên lên bãi cát trắng phau mát dịu, Hạnh hướng dẫn viên du lịch với giọng nói to của người quen với sóng gió, nhưng trầm ấm và có duyên của người làm du lịch anh nói: “Đảo chưa có điện lưới, ở đây dùng máy nổ và điện ắc quy, đảo chưa có nhà máy nước nhưng nước sạch ở đây quanh năm không cạn do các dòng suối trong từ mạch nguồn trên đỉnh núi đưa về và ở đây còn có giếng Chăm cổ đã 500 năm không bao giờ cạn”. Dẫn chúng tôi vượt qua bãi cát mênh mông trong tiếng gió rì rào chải tóc cho rặng dừa xanh anh nói tiếp: “Đây là bãi biển sạch, trên đảo không dùng túi ni lông, hàng hóa được đựng vào các túi giấy và túi làm từ lá dừa. Người dân trên đảo từ lâu đã ý thức được điều này và đã hướng dẫn cho du khách đến đây cùng nhau giữ cho môi trường xanh, sạch, đẹp”.

Cù Lao Chàm xưa có nhiều tên gọi khác nhau: Sapu, Pulociam, Pu lao cham, chiêm bất lao… gắn với lịch sử lâu đời của người Chăm ở nơi đây. Câu chuyện về công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân (Chăm Pa) và Cù Lao Chàm được vua Chăm Pa nhường cho công chúa được người dân ở đảo lưu truyền coi đây là chứng tích lịch sử của đảo này.

Cù Lao Chàm nay thuộc đảo Tân Hiệp (thành phố Hội An), dân số khoảng 3.000 người, 610 hộ, cư dân đảo sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá, có một phần nhỏ diện tích trồng cây lúa nước, giờ đã mở ra một nghề mới “du lịch cộng đồng”, họ cũng đã cố gắng bảo tồn nghề đan võng. Với tài nguyên rừng, biển tự nhiên, không nuôi trồng thủy, hải sản để làm mất môi trường sinh thái. Với gần 1.549 ha rừng tự nhiên, 5.175 ha mặt nước, trên mặt nước ấy có tới  311 ha rạn san hô (277 loài san hô tạo rạn thuộc 40 giống, 17 họ khác nhau); 270 loài cá thuộc 105 giống, 40 họ; 5 loài tôm hùm; 97 loài nhuyễn thể. Trên đảo với các thảm cỏ biển lớn 500 ha …tạo cho Cù Lao Chàm một cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Và thơ mộng hơn các dòng suối như suối Tình, suối Ông róc rách chảy từ các ngọn nguồn đỉnh núi như bản nhạc trữ tình khi trầm, khi bổng, đưa về nguồn nước sinh hoạt không bao giờ cạn cho cư dân sống trên đảo. Lên đảo, có thể đi thăm hòn Chồng, nơi đây cư dân còn nhớ mãi huyền thoại về chuyện Vọng thê (người chồng chờ vợ), với câu ca cửa miệng của cư dân ở đảo “Ai đem đá núi xếp lên chồng. Hỏi chồng không vợ có buồn không”, để thông cảm với cảnh người chồng ngày đêm mong ngóng người vợ yêu thương đi biệt xứ (giai thoại về công chúa Huyền Trân gả cho vua Chế Mân (Chăm Pa)).

Cùng với cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng, Cù Lao Chàm còn là vùng đảo mang nhiều dấu ấn lịch sử văn hóa với 7 di tích như chùa Hải Tạng (Hải Tạng Tự), giếng cổ Chăm (500 năm chưa bao giờ cạn), Miếu tổ nghề Yến, đền thờ Lăng Ông… được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Năm 2009, Cù Lao Chàm vinh dự và tự hào được UNESCO công nhận là khu Dự trữ sinh quyển. Đến với biển đảo Cù Lao Chàm chúng tôi có cơ hội được biết và hiểu thêm về đời sống văn hóa đặc trưng về cư dân biển đảo, cảm nhận nhiều điều về lịch sử và hiện tại giữa văn hóa tâm linh, mối quan hệ giữa văn hóa Chăm Pa và Đại Việt. Xem san hô bằng tàu đáy kính và thúng đáy kính để cảm nhận vẻ đẹp tuyện vời của rạn san hô đủ màu sắc mà chắc chỉ ở đây mới có.

Đến thăm làng chài Bãi Hương có tên cổ là làng Phúc Hương, nằm ở phía tây nam hòn Lao, nơi đây có 100 hộ, họ làm nghề chài (nay còn giữ được nguyên vẹn nghề đánh bắt truyền thống), ở đây được thưởng thức món ốc Nón, ốc Mặt trăng, bào ngư…Món đặc sản khu du lịch cộng đồng Cù Lao. Rời làng cổ, chúng tôi đến Trịnh Xá Ngọc Hương, thắp nén hương thờ Phật và hưởng không khí thanh tịnh nơi phật độ. Vào thăm bãi Hương viếng tổ nghề Yến “Yến nghề tổ miếu”, nơi đây cứ 10/3 âm lịch hàng năm, cư dân tổ chức lễ hội, rước tế tổ nghề và xin phép thành hoàng vào mùa khai thác tổ yến (Yến nghề tổ miều là ông tổ nghề của ba tỉnh xưa kia: Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa). Một ngày trên đảo, lướt trên biển, thăm, ngắm cảnh, ngắm người thưởng ngoạn vẻ đẹp hoang sơ của đảo đã để lại ấn tượng trong mỗi chúng tôi về đất, về người, về biển đảo quê hương. Đêm nay 5.4 chúng tôi ngủ trên đảo thưởng thức đêm du lịch cộng đồng, nghỉ tại nhà cụ Nguyễn Thị Môn, người duy nhất đang bảo tồn nghề đan võng bằng chất liệu cây ngô rừng. Cụ Môn đã vào tuổi 90 nhưng còn khỏe và nhanh nhẹn, nói chuyện vui vẻ, hồn nhiên cụ bảo: “Tôi làm nghề này từ khi còn bé, trước kia cả làng làm nghề nhưng nay khó giữ lắm. Bởi lẽ dệt võng thủ công, từ khi lên rừng chặt cây ngô rừng về ngâm (như ngâm cây đay), tuốt những sợi trắng muốt, rồi dệt võng, cả công đoạn làm được chiếc võng mất hàng 2 tháng trời”. Hỏi giá một chiếc võng cụ chậc lưỡi trả lời: “đắt đấy, 2,6 triệu đồng, nó là loại võng trị bệnh, nằm trên võng này sẽ giãn xương, giãn cốt và trị được bệnh đau khớp, đêm nay các anh nằm thử xem, sáng dậy sẽ sảng khoái, thoải mái sau những ngày đi xa, đi nhiều. Vâng! Đêm nay cụ cho chúng cháu thử xem. Tôi trả lời cụ và hỏi ông Đăng, con trai cả cụ xem việc chuẩn bị bữa tối cho đoàn ra sao. Ông Đăng năm nay đã ngoài 60, người rắn rỏi, đen và chắc nịch, trầm tư anh nói: Bào ngư nướng, ốc nón, ốc mặt trăng, cá nấu riêu và món cua đá hấp. Đặc sản đấy, thưởng thức với rượu Bào ngư chắc các nhà báo và họa sĩ sẽ nhớ đời. Cua đá chỉ ở đây và đảo Cồn mới có, cua nướng, cua hấp thịt thơm và dai, 700.000 đ/kg đấy.

Bữa ăn trên đảo Cù Lao Chàm dưới ánh sao trời lấp lánh, nhìn xa xa ngoài biển khơi những ánh sáng lung linh của hàng trăm thuyền câu mực của ngư dân và khách di lịch muốn khám phá biển khơi. Ông Đăng tâm sự, từ khi được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển, làng tôi và các làng khác trên đảo trở thành khu du lịch cộng đồng; chúng tôi trở thành những hướng dẫn viên  du lịch không chuyên nhưng tâm đắc và giàu lòng mến khách. Tất cả những người làm dịch vụ phục vụ du khách ở đây đều là con dân của đảo. Lãnh đạo xã, Ban quản lý khu du lịch chỉ ưu tiên cho bà con trên đảo mở cửa hàng, cửa hiệu và tổ chức tiếp đón khách tại nhà, họ không chấp nhận những thương nhân trên đất liền ra đây buốn bán. Rượu ngấm dần êm ái, chúng tôi miên man tâm sự tới khuya. Rượu và gió biển mát lành, trời và biển mênh mang đã xua đi cái mệt nhọc của chuyến đi dài hàng ngàn cây số và những cảm nhận như tù túng trên lớp học, đưa chúng tôi vào giấc ngủ ngon.

Đêm ở biển như ngắn hơn đất liền, mới 5 giờ sáng mà bãi biển đã rộn rịp tấp nập của những cư dân đi biển về, những du khách xuống biển thưởng thức khí trời và vẫy vùng dưới mênh mang biển nước. Văn Tơn cao hứng chụp cho tôi và cụ Môn tấm ảnh làm kỷ niệm bên chiếc võng cây ngô rừng. Chúng tôi ai cũng cảm giác như khỏe hơn.

Một ngày, một đêm ở đảo làm cho ai cũng xốn xang về cảnh và con người ở nơi đây. Những con người như mẹ Môn, như ông Đăng cùng con cháu họ và biết bao ngư dân khác, họ đều là những con người thuần phác, yêu biển, yêu rừng và chính họ và ông cha họ là người dân bám biển, bám đảo, là những người lính, người chiến sĩ bảo vệ từng tấc đất, vùng biển, vùng trời của quê hương, đất nước. Ngày nay trong công cuộc đổi mới, họ lại trở thành những hướng dẫn viên du lịch, những người thợ thủ công tài nghệ làm ra những sản phẩm từ rừng và biển phục vụ du khách và chính những con người thuần phác ấy đã làm nên những kỳ tích của biển đảo thân yêu. Biển, đảo và người nơi đây chúng tôi đã gặp, đã chứng kiến chắc chắn sẽ là những dấu ấn khó phai mờ trong chuyến đi thực tế tuyên truyền về biển đảo này. Xin tạm biệt Cù Lao Chàm, tạm biệt mẹ Môn, xin cám ơn Hoàng Hạnh đã cho chúng tôi hiểu thêm về biển đảo anh hùng, thủy chung son sắt./.

Ngô Văn Trụ

;?>