• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5245343
  • Số người đang xem: 19
  • Trong ngày: 233
  • Trong tuần: 16009
  • Trong tháng: 1413100
  • Trong năm: 4893120
Trang chủ

Đóng góp của Hán quận công Thân Công Tài với đất nước, quê hương

( 11:29 | 01/06/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Thân Công Tài (1620-1683) quê xã Như Thiết, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Như Thiết, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ông sống vào thời vua Lê – chúa Trịnh ở đàng ngoài, chúa Nguyễn ở đàng trong và triều vua Mạc Kính Vũ, triều vua cuối cùng của nhà Mạc ở đất Cao Bằng.

Đó là thời kỳ xã hội nước ta có nhiều biến động trong nước. Ông vốn là quan võ, làm đến chức Tả đô đốc, tước Hán Quận công, đã từng là trấn thủ Bắc đạo, gồm Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, một vùng rộng lớn, nhiều sông ngòi rừng núi, có biên ải và quan trọng là cửa Nam Quan, trên đường Thiên lý từ kinh thành Đông Đô (Thăng Long) đi sang Trung Quốc.

Thân Công Tài là người khoan hòa, chuyên cần nên thường được tham dự họp bàn việc nước ở triều đình. Năm Cảnh Trị thứ năm (1667) sứ nhà Thanh sang phong vương cho vua Lê và ban cho ấn bạc mạ vàng, ông được cử vào phái đoàn triều đình lên cửa ải đón tiếp sứ. Năm Chính Hòa thứ ba (1682) ông được cử lên Nam Quan, cùng Phó đô ngự sử Võ Duy Đoán, nhận tù binh nhà Mạc, do nhà Thanh bắt được và trao trả. Ông đã xét kỹ 350 tù binh nhà Mạc, rồi cho hơn 200 người ở lại sinh sống trên đất Lạng Sơn, số còn lại đưa về kinh đô. Mặt khác, ông ra sức ổn định tình hình biên giới vì lúc ấy quân Thanh thường gây rối. Ông lại được nhận chức Đồng tri, cùng Vi Đức Thắng ở Lạng Sơn, trấn giữ biên thùy. Đây là dịp ông đóng góp một việc lớn, mà ngày nay được đánh giá cao. Ngoài nhiệm vụ quân quản chốn cửa ải biên cương, Thân Công Tài đã để tâm nhiều đến đời sống kinh tế cửa khẩu. Ông cho san đồi mở núi, làm rộng đường sá, lập lên bản phường phố chợ Kỳ Lừa, thu hút thương khách Trung Quốc sang buôn bán, khiến trấn lỵ Đoàn Thành (tên thành Lạng Sơn ngày ấy) chẳng bao lâu trở nên phồn thịnh, manh nha một đô thị mới. Đặt vào bối cảnh nước ta ở đàng ngoài cuối thế kỷ XVII mới thấy tầm nhìn, việc làm của Thân Công Tài là sâu sắc, có ý nghĩa xã hội lớn. Chiến tranh Lê – Mạc vừa mới chấm dứt, ở đàng trong thì chúa Nguyễn cho mở cảng Hội An đón thương khách người Hoa, người Nhật… Tư tưởng mở mang thương nghiệp, trên cơ sở mở mang đô thị từng bước (mà ngày nay gọi là đô thị hóa) của Thân Công Tài, quả thực là một tư tưởng mới đương thời. Ông đã thuyết phục được các vị quan và chỉ đạo dân chúng địa phương thực hiện kết quả theo ý muốn. Bảy phường chợ ở Đoàn Thành (Lạng Sơn) trước hết là phố chợ Kỳ Lừa và 13 phường buôn Trung Quốc ra đời. Chính vì vậy, khi ông mất, các thương nhân hai nước Việt – Trung đồng lòng lập đền thờ ông, gọi là đền Tả Phủ (Phủ của quan Tả đô đốc, tên đầy đủ là Tả phủ linh từ). Trong đền có tấm bia đá gọi là Tôn sư phụ bi (bia tôn ngài làm sư phụ, tức là làm thầy, làm cha) dựng năm Chính Hòa thứ tư (1683). Văn bia có đoạn viết: “Quan cũng như dân khắp vùng đều sợ oai nghiêm ngài. Thương khách mọi phương đều muốn xin tới họp chợ và cùng có tờ khải xin tôn ngài làm sư phụ… Sau này, các bậc hiểu cao xa hãy cảm thấu tấm lòng hiền nhân, nhớ công đức của ngài họ Thân… Để vẻ sáng của ngài, hương thơm của ngài được lưu truyền lâu xa… nêu cao phong tục tốt đẹp tới trăm nghìn năm vậy”.

Hằng năm, hội đền Tả Phủ mở rất đông vui náo nhiệt, vào ngày 22 đến 27 tháng giêng mùa xuân. Di tích đền Tả Phủ đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích quốc gia năm 1993. Trên phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn ngày nay có phố Kỳ Lừa và phố Thân Công Tài. Nhà nước đã ghi nhận công lao của ông trong lịch sử.

Với quê hương, khi còn sống Thân Công Tài đã công đức rất nhiều. Gần làng ông, trên đường quốc lộ 1A cũ, có Nghè Nếnh nổi tiếng với lễ hội, một lễ hội vùng gồm các thôn xã xung quanh. Đến trước cách mạng tháng Tám 1945, hội Nghè Nếnh là hội lớn thu hút khách thập phương, thu hút nhiều liền anh, liền chị Quan họ bờ bắc, bờ nam sông Cầu, đến dự hội và vui hát đón tiếp nhau rất nhộn nhịp. Có thể nói, hội Nếnh là hội thu hát Quan họ lớn nhất bên bờ bắc sông Cầu, do đường đi lại thuận lợi, sát quốc lộ, có chợ nhiều hàng hóa nông sản họp nhiều phiên, phố xá sầm uất. Các làng tham gia rước trong lễ hội đều thờ thánh Tam Giang -  đức thánh mà rất nhiều làng dọc hai bên bờ sông Cầu thờ phụng. Từ cuối thế kỷ XVII về sau, Nghè Nếnh thờ phối hưởng Hán Quận công Thân Công Tài. Theo văn bia lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán - Nôm (các số 9843 - 46, 23767 - 68) “Điền công bi” dựng lại lăng Thân tướng công năm Đức Nguyên thứ hai (1675) cho biết: các xã Liên Hồ, Khánh Ninh, Văn Ninh, Yên Ninh, Lai Ninh, Mật Ninh, Động [Ninh] tổng Mật Ninh, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc nhận Thân Công Tài làm hậu thần vì ông công đức 700 quan tiền sử, ruộng tổng cộng sản lượng 100 gánh… Cũng từ đấy cho đến năm 1936 – năm bị cấm – lễ hội Nghè Nếnh đông vui hơn, vì dân các làng được Thân Công Tài công đức nô nức đi hội, nhất là sau năm ông mất (1683) lễ hội dường như được làm to hơn, kéo dài được tới 253 năm (1683 - 1936). Ở Như Thiết, quê ông hiện nay còn mộ và ngôi đền thờ ông, với một bia đá tạo năm Chính Hòa thứ bẩy (1686). Các đình ở quê ông, hằng năm đều hương khói phối hưởng, thờ ông làm hậu thần. Như vậy, khi còn sống ông không hề quên quê hương, khi đã mất quê hương cũng không hề quên ông, ông trở thành hậu thần của nhiều làng nơi ông sinh ra và trưởng thành. Ông gắn bó với quê hương, trong sự tưởng nhớ của nhân dân, thông qua lễ hội làng, lễ hội vùng…

Sự nghiệp của Thân Công Tài là trấn thủ Bắc đạo, từ bờ bắc sông Hồng lên tới miền biên thùy Lạng Sơn, suốt nhiều năm. Nhưng quan trọng nhất là: vào mấy năm cuối đời, ông đã mở ra một cửa khẩu, giữ được an ninh, lại năng động về kinh tế thương mại quốc tế, thể hiện tư tưởng mới của một võ tướng – tư tưởng đô thị hóa – cuối thế kỷ XVII. Phố chợ Kỳ Lừa nay to đẹp hơn xưa, ngôi đền Tả Phủ, lễ hội Tả Phủ còn đó, đã trải qua hơn 300 năm và chắc chắn còn tồn tại mãi. Ông hết lòng vì việc nước lại, đem hết gia sản xây dựng quê hương.

Nguyễn Đình Bưu

 

;?>