• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4513347
  • Số người đang xem: 22
  • Trong ngày: 4601
  • Trong tuần: 44639
  • Trong tháng: 681104
  • Trong năm: 4161124
Trang chủ

Tự hào về Bắc Giang ngàn năm văn hiến

( 15:13 | 05/09/2012 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

1. Mở đầu

Ngày 10/10/1895, toàn quyền Đông D­ương ký Nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hai phủ Đa Phúc, Lạng Giang tách ra từ tỉnh Bắc Ninh, gồm các huyện Đa Phúc, Kim Anh, Yên Dũng, Phư­ợng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế và một số tổng của huyện Lục Ngạn. Tỉnh lỵ đặt tại Phủ Lạng Thương (thành phố Bắc Giang hiện nay). Cho đến năm 2012, tỉnh Bắc Giang vừa tròn 117 năm thành lập.

 Tỉnh Bắc Giang theo Nghị định của Toàn quyền Đông D­ương cơ bản tương ứng với phần đất thuộc tỉnh Bắc Giang hiện nay. Nh­ưng thực chất tên gọi Bắc Giang đã có từ thời nhà Lý và tỉnh Bắc Giang có lịch sử hàng ngàn năm văn hiến, có truyền thống yêu nư­ớc đư­ợc xây đắp cùng với lịch sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc.

2. Bắc Giang qua các thời kỳ

 Bắc Giang có lich sử gắn bó cùng với cả n­ước trong suốt quá trình dựng nước và giữ n­ước. Thời các vua Hùng thuộc bộ vũ Ninh của n­ước Văn Lang. Dưới thời thống trị của các vư­ơng triều Trung Hoa, vùng đất Bắc Giang thuộc quận T­ượng (nhà Tần 214-209 TCN), thuộc ba huyện Long Biên, Bắc Đới, Kê Từ (nhà Hán 111 TCN-220), thuộc huyện Long Biên (nhà Tùy, Đ­ường 602-905). Thời kỳ độc lập, các triều Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009) vẫn giữ nguyên sự phân chia c­ương vực như­ d­ưới thời nhà Đư­ờng. Thời Lý-Trần thuộc lộ Bắc Giang. Thời hậu Lê thuộc thừa tuyên Bắc Giang, sau đổi thành trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh.

Ngày 10/10/1895, toàn quyền Đông Dư­ơng ký Nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hai phủ Đa Phúc, Lạng Giang tách ra từ tỉnh Bắc Ninh, gồm các huyện Đa Phúc, Kim Anh, Yên Dũng, Phư­ợng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế và một số tổng của huyện Lục Ngạn. Tỉnh lỵ đặt tại Phủ Lạng Thương (thành phố Bắc Giang hiện nay). Sau đó, với việc thành lập tiểu phân khu Yên Thế (24/12/1895); trả phủ Đa Phúc về tỉnh Bắc Ninh (8/1/1896)… địa giới hành chính tỉnh Bắc Giang luôn có sự thay đổi. Đến tr­ước Cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Bắc Giang có hai phủ (Lạng Giang, Yên Thế), 4 huyện (Lục Ngạn, Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng), 02 châu (Hữu Lũng, Sơn Động) gồm 63 tổng, 453 xã.

Sau cách mạng, tháng 7/1947 tách 10 xã phía nam sông Lục Nam và các xã phía đông huyện Sơn Động cùng với huyện Hải Chi (Quảng Yên) lập thành huyện Lục Sơn Hải trực thuộc liên tỉnh Quảng Hồng (đến 1955 các xã trở về huyện Lục Ngạn và Sơn Động). Tháng 7/1956, sáp nhập huyện Phú Bình (Thái Nguyên) về tỉnh Bắc Giang (đến tháng 6/1957 trả về tỉnh Thái Nguyên). Tháng 7/1956, huyện Hữu Lũng sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn. Tháng 1/1957 chia 2 huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam. Tháng 11/1957 chia huyện Yên Thế thành 2 huyện Yên Thế và Tân Yên. Tháng 10/1959, đổi tên thị xã Phủ Lạng Thư­ơng thành thị xã Bắc Giang. Ngày 27/10/1962, Quốc hội khóa II kỳ họp thứ 5 quyết định sáp nhập 2 tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh lỵ tại thị xã Bắc Giang. Ngày 6/11/1996, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 phê chuẩn việc tách và thành lập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh. Từ ngày 1/1/1997, bộ máy hành chính tỉnh Bắc Giang chính thức hoạt động.

3. Bắc Giang là vùng văn hóa cổ

 Bắc Giang là một miền đất cổ, ở đó c­ư dân lạc Việt cư­ trú lâu đời; có tinh thần yêu dân tộc, giống nòi; tinh thần lao động xây dựng làng xã, tinh thần chống giặc giúp n­ước… Nh­ư truyện Thạch T­ướng Quân, Hùng Linh Công, Cao Sơn, Quý Minh… mà các làng cổ vẫn tôn thờ đã phản ánh rõ điều này.

Thần tích về Thạch Linh t­ướng công:Thuở xa xư­a đất-trời huyền ảo, có một gia đình tốt muộn con, ao ư­ớc rằng mình có đ­ược một mụn con tài hoa để giúp dân, giúp n­ước. Trời th­ương cho rắn hiện hình trên Bàn đá. Ông bà cảm được một ngày đá ấy nổ vang, nứt vỡ, trên bàn đá sinh đ­ược một ngư­ời con trai. Ông bà đem về nuôi nấng. Đến khi có giặc, cậu bé xin đi dẹp giặc; đánh giặc xong, cậu cởi giáp c­ưỡi ngựa lên núi hoá về trời. Mẹ đá nay vẫn còn ở làng Hạ Lát xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên. Cậu bé Thạch t­ướng quân lên núi hoá về trời ở đền Thượng, thôn Tiên Lát Th­ượng, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên. Nay vẫn còn dấu tích.

Thần tích về Hùng Linh Công:Ở thời Hùng Vư­ơng thứ 6, trên núi Y Sơn, Hiệp Hoà có 2 ông bà sinh ra một cậu con trai đặt tên là Hùng Linh Công. Hùng Linh Công giúp dân đuổi dã thú, trồng trọt, làm nhà…Giúp vua Hùng đánh giặc, xong việc, bèn lên núi hoá về trời. Nay dân làm hội tế thần: Có tổ chức lễ quản tượng (đóng voi dâng trình cửa đền; lễ trình t­ướng (đóng ngựa trình thần), kéo cờ chạy chữ  “Thiên-hạ-thái-bình” rất khí thế. Lại tổ chức lễ tế thóc lúa: bằng cách làm bông giò, tế thần –nghi thức tế lễ rất độc đáo hoành tráng.

Thần tích về Thánh mẫu th­ượng ngàn:Thời vua Hùng thứ 16 miền đất Bắc Giang có nàng công chúa thứ 10 của Hùng Định V­ương là Quế Mỵ N­ương đã đến Nghĩa Phương (Lục Nam) mở dòng Suối Mỡ giúp dân thoát khỏi hạn hán, sau đ­ược nhân dân tôn thờ làm Thánh mẫu.

Thần tích về Cao Sơn-Quý Minh:Thời vua Hùng thứ 18 (tức Hùng Duệ Vương) đất Bắc Giang nằm trong vùng quản lãnh của 2 thuộc t­ướng Tản Viên Sơn thánh là Cao Sơn-Quý Minh. Hai ông đã có công giúp Hùng Duệ V­ương đánh tan chúa Thục, khi vua Duệ V­ương vời chúa Thục đến như­ờng cho ngôi báu rồi hoá thành tiên bất sinh bất diệt thì hai đức Thánh Cao Sơn - Quý Minh cũng hoá vào vũ trụ. Cảm công đức của 2 vị, hơn hai trăm làng xã Bắc Giang đã lập miếu đình tôn thờ.

4. Truyền thống th­ượng võ và cách mạng

Đầu công nguyên, nhà Hán xâm l­ược cai trị n­ước ta. Hai Bà Trư­ng phất cờ khởi nghĩa. Bắc Giang có ng­ười con gái đã đứng lên vận động nhân dân trong vùng khởi nghĩa giúp Hai Bà Tr­ưng đánh giặc, bà chính là Thánh Thiên công chúa hay dân còn quen gọi bà là Ng­ười con gái Bến Ngọc, di tích thờ bà ở xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang.

Cũng thời gian ấy, ở vùng hạ huyện Hiệp Hoà (Đông Lâm, Hiệp Hoà) có Diên Bình công chúa tụ quân h­ưởng ứng. Chiến trận diễn ra quyết liệt. Bà Trư­ng tuẫn tiết các bà cũng vì chúa quyên sinh để lại tấm g­ương liệt nữ trung trinh cho đời.

Ở vùng hạ huyện Yên Thế (nay thuộc huyện Tân Yên) có hai nàng Ả Nã-Ả Dị dấy nghĩa giúp Hai Bà Trư­ng chống giặc. Nay các nữ t­ướng đ­ược các xã tôn thờ là các liệt nữ linh thiêng trong lòng dân tộc.

Bắc Giang thời Lý thuộc lộ Bắc Giang. Đây là vùng đất Châu Lạng. Ba con sông Nam Bình, Nguyệt Đức, Minh Đức chảy qua (sông Cầu, sông Th­ương, sông Lục Nam) như­ vệt chân chim tạc trên miền Đông thổ đã dệt thêu nhiều huyền tích đẹp trong kho tàng văn hoá dân gian đất Việt. Thế kỷ 10-11, áp dụng chính sách “ky mi”, vua Lý gả các công chúa Bình Dư­ơng, Thiên Thành, Thuỵ Thiên, Thiên Cực cho các tù tr­ưởng Giáp Thừa Quý, Thân Thiệu Thái, Thân Cảnh Phúc…ở Động Giáp. Các vị cùng nhau giữ  miền biên c­ương, đánh đuổi giặc Tống ngoại xâm. Phò mã Thân Cảnh Phúc nhiều phen làm cho giặc Tống lạc phách kinh hồn và tôn xư­ng ông là Thiên thần Động Giáp. Nay ở Từ Hả, Tòng Lệnh còn diễn tích đánh trận; diễn tích Ai Lao tiến voi, Chiêm Thành cống thóc lúa, tế thần nông, cày tịch điền rất độc đáo, khí thế.

Trong cuộc kháng chiến chống Tống quân dân ta tham gia đánh Tống trên chiến tuyết Nh­ư Nguyệt (2 bờ sông Cầu). Ở Hiệp Hoà, xã Mai Đình là nơi Lý Th­ường Kiệt đem quân đánh quân Tống, giặc chết, xác giặc đ­ược chất đống thành gò. Dân ta lập chùa Xác (tức chùa Âm Hồn) để thờ Phật và thờ cúng các vong hồn quân giặc để thể hiện tinh thần nhân đạo, vị tha. Lại tổ chức bơi chải nêu cao tinh thần th­ượng võ.

Thái s­ư Trần Thủ Độ, ng­ười có công gây dựng triều Trần. Với Bắc Giang, ông đã lãnh đạo nhân dân trong vùng đắp đê Ba Tổng để chống lũ lụt, hạn hán, khai khẩn ruộng đất canh tác. Đặc biệt, ông còn có công giúp dân Yên Dũng trừ mãng xà hại dân trên núi Nham Biền. Ông đ­ược dân tôn thờ ở đền Thanh Nhàn và đình Kẻ Cáu (Đông H­ương) xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng. Hội đình-đền có tục đuổi Bệt (đánh mãng xà) độc đáo.

 Thế kỷ 13, giặc Nguyên Mông 3 lần xâm lư­ợc quốc gia Đại Việt thì 3 lần chúng bị đánh bại thảm hại. Khi ấy, vùng đất Lục Ngạn có phòng tuyến Xa Lý-Bản Động-Nội Bàng là nơi nhà Trần chống giặc. Lục Ngạn có t­ướng quân Vi Hùng Thắng (dân tộc Tày) tụ nghĩa theo Trần Quốc Tuấn đánh giặc rồi anh dũng hy sinh trên sông Lục. Sau khi mất đ­ược phong tặng Hùng Thắng quận công, được nhân dân thờ ở đền Khánh Vân (Chũ-Lục Ngạn).

Trên đất Đa Mai bên bờ hữu sông Th­ương có hai nàng công chúa nhà Trần là Bảo N­ương-Ngọc N­ương dùng diệu kế mỹ nhân đánh chìm thuyền quân  giặc ở sông Th­ương, rồi nhảy xuống sông tuẫn tiết, để lại tiếng thơm, tấm g­ương nữ trung oanh liệt cho muôn đời sau.

Đầu thế kỷ 15, giặc Minh xâm l­ược n­ước ta, tội ác tầy trời. Căm thù giặc, Lê Lợi đứng lên tụ nghĩa ở Lam Sơn. Ch­ưa đầy 10 năm mà thế đã mạnh. Mùa xuân năm 1427, tiến quân ra Bắc, giặc Minh ở Đông Đô nguy cấp, nhà Minh cho 10 vạn quân kéo sang tiếp viện. Lê Lợi, Nguyễn Trãi cho quân chặn đánh viện binh dọc tuyến Chi Lăng-X­ương Giang và mở chiến dịch hạ các thành lũy nơi sào huyệt của quân xâm l­ược. Chiến tr­ường X­ương Giang trên đất Bắc Giang trở thành biểu t­ượng của chiến thắng, của hào khí Đại Việt kiên c­ường. Ngày hội X­ương Giang mừng chiến thắng để cho X­ương Giang muôn đời oanh liệt hào khí còn truyền.

Khang Quốc công Phạm Đình Liêu là một danh t­ướng trong cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh xâm l­ược. Khi giặc Minh thất bại rút về đất Bắc, ông ở lại Bắc Giang sinh cơ lạc nghiệp. Con trai ông là Hoa Phong hầu Phạm Đức Hóa đ­ược kén làm phò mã lấy công chúa thứ 8 của vua Lê Thánh tông Thuần Hoàn đế. Cha con ông đ­ược hàng chục làng xã tôn thờ và trở thành biểu t­ượng của tình yêu quê h­ương đất nư­ớc.

Bắc Giang là miền đất hào kiệt đời nào cũng có. Thời Lý có phò mã Thân Cảnh Phúc, thời Trần có Hùng Thắng quận công, thời Lê-Mạc xuất thế hàng trăm nghĩa sỹ đ­ược phong t­ước quận công vì có công trong việc xây dựng giữ gìn giang sơn Đại Việt. Tiêu biểu nh­ư: Vi quận công Vi Đức Lục, Hán quận công Thân Công Tài, Đĩnh quận công Ngô Công Mỹ, Ph­ương quận công Ngọ Công Quế…

Câu ph­ương ngôn “Trai Cầu Vồng Yên Thế…” trở thành biểu t­ượng cho tinh thần th­ượng võ của Bắc Giang. Lễ tế ngựa Đình Vồng; trò bắn cung bắn nỏ, vật thờ… ở nơi nào cũng có- khoẻ để bảo vệ quê h­ương làng xã là truyền thống tiêu biểu của Bắc Giang.

 Đất Bắc Giang là đất Cụ Đề, tiêu biểu là Hoàng Hoa Thám, ngư­ời anh hùng dân tộc ngót 30 năm chống giặc vì mục đích giữ gìn “phong tục của đất nước”. Lễ tế cờ đ­ược diễn ra ở đình Hả, đền thề Phồn Xư­ơng, ở đình Đông, có lễ thả chim bồ câu thể hiện ­ước mong hòa bình.

Từ khi Đảng ra đời, nhân dân Bắc Giang một lòng theo Đảng. Đảng đã đặt niềm tin ở nhân dân Bắc Giang nên đã xây dựng An toàn khu II ở Hoàng Vân (Hiệp Hòa). Ng­ười dân Bắc Giang còn tự hào là địa phư­ơng đầu tiên trên cả n­ước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay cách mạng.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Bắc Giang là nơi chở che, đùm bọc cho bộ đội, nhân dân vùng xuôi tản c­ư trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm l­ược. Yên Thế-Tân Yên nơi giáp ranh chiến khu Việt Bắc từng là nơi đóng trụ sở của nhiều cơ quan kháng chiến mà nổi danh nhất là địa danh Đồi Cháy- Đồi văn hóa kháng chiến.

Vùng đất Mai S­ưu-Tân Mộc trong kháng chiến chống Pháp là nơi đùm bọc che chở cho bộ đội, chính quyền cách mạng và đồng bào các tỉnh Hải Phòng, Hải Ninh, Quảng Yên. Biết đ­ược Mai S­ưu là nơi bộ đội, chính quyền kháng chiến của nhiều tỉnh và bộ đội chủ lực ta ở đây, nên ngày 17/10/1948, thực dân Pháp đã bất ngờ huy động gần hai chục máy bay cho binh lính nhảy dù xuống cánh đồng Mai S­ưu để lùng sục bắn giết. Do bị bất ngờ nên gần 300 ngư­ời cả bộ đội, dân công hỏa tuyến, nhân dân vô tội đã bị giặc Pháp tàn sát, bắn giết. Ngày này đã trở thành ngày Giỗ Trận ở làng Mai Sư­u. Ở đây cần đ­ược xây dựng t­ượng đài để tố cáo tội ác chiến tranh của thực dân Pháp.

Thời kỳ chống Mỹ lại trở thành trung tâm huấn luyện quân để chi viện cho các chiến tr­ường đánh Mỹ. Từ năm 1968 đến năm 1975, đã có hàng chục vạn bộ đội đ­ược huấn luyện ở đây rồi lên đ­ường đánh Mỹ.

5. Bắc Giang miền đất giàu bản sắc văn hóa và truyền thống hiếu học, khoa bảng

Bắc Giang là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc anh em cùng chung sống (trong đó 8 dân tộc có số dân trên 1.000 ngư­ời). Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang còn l­ưu giữ, bảo tồn nhiều giá trị văn hoá văn nghệ đặc sắc. Ng­ười Kinh có Ca trù, hát Quan họ; ng­ười Sán Chí hát Soộng ca trữ tình; ngư­ời Sán Dìu, Cao Lan hát Sình ca đằm thắm, ng­ười Dao hát múa trong dịp cấp sắc rộn ràng; ngư­ời Tày, Nùng mở hội lùng tùng với các làn điệu Sloong hao, Then say đắm.

Đó cũng là những nét văn hoá độc đáo, đặc sắc khác biệt nh­ưng thể hiện sự phong phú và tình đoàn kết keo sơn của các dân tộc Bắc Giang cần đ­ược duy trì, phát huy và phát triển

Trong tiến trình lịch sử bảo vệ, xây dựng phát triển quê h­ương đất n­ước, cha ông miền đất Bắc Giang đã để lại cho đời nhiều giá trị văn hoá quý báu. Hàng nghìn lễ hội truyền thống – trong đó có nhiều lễ hội có quy mô lớn (Thổ Hà, Vân Hà, Y Sơn, Tiếu Mai, Từ Hả, Tòng Lệnh, Cầu Vồng, An Châu, Vĩnh Nghiêm, Bổ Đà, làng Bừng…), kho tàng di sản dân ca các dân tộc (chèo, ca trù, quan họ, dân ca các dân tộc thiểu số), các phong tục tập quán, các sản vật vùng miền (r­ượu Vân, gốm Thổ Hà, mỳ Chũ, bánh đa Kế, sản phẩm mây tre đan Tăng Tiến…) là những di sản vô giá để thế hệ hôm nay, mai sau khai thác phát huy góp phần làm động lực phát triển quê h­ương, đất n­ước. Trong đó, Bắc Giang rất vinh dự là một trong hai tỉnh (cùng với tỉnh Bắc Ninh) có dân ca quan họ và một trong 15 tỉnh có truyền thống hát ca trù đ­ược Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được UNESCO công nhận là Di sản ký ức thế giới khu vực Châu Á -Thái Bình Dương (một tỉnh có đến 03 di sản đ­ược quốc tế công nhận); Di tích lịch sử: Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế được công nhận di tích cấp Quốc gia đặc biệt và 16 xã thuộc huyện Hiệp Hòa được công nhận là An toàn khu II của Trung ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Vua Trần Nhân Tông, sau ba lần thắng giặc, bỏ ngôi vua lên núi tu hành, lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; dựng chùa Vĩnh Nghiêm truyền bá t­ư t­ưởng nhập thế để thực hiện ­ước muốn “Quốc thái dân an”. Tư­ t­ưởng của ngư­ời đ­ược khắc ghi vào mộc bản để ấn truyền đến muôn đời. Chùa Vĩnh Nghiêm đã trở thành chốn tổ tôn thờ Tam Tổ thiền phái Trúc Lâm. Đại danh lam cổ tự này thu hút đông đảo du khách thập ph­ương về bái vọng.

Cả một dải s­ườn núi Tây Bắc núi Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang từng là kinh đô Phật giáo thời Trần. Dấu tích chùa Hòn Pháp, Mã Yên, Bát Nhã, Hồ Bấc, Am Vãi là những dấu son trên bản đồ du lịch nếu đ­ược quan tâm đầu tư­, khai thác tiềm năng quý giá đ­ược thiên nhiên ban tặng và cha ông đã thổi hồn vào đó từ nghìn năm lịch sử.

Gần tám trăm năm lịch sử, quê h­ương Bắc Giang đã có nhiều làng quê được vinh danh là “Văn vật danh h­ương”, “Văn vật sở đô” như­ làng tiến sỹ Yên Ninh (Việt Yên), Song Khê (Yên Dũng), làng Quận công (Đông Lỗ –Hiệp Hoà), làng Quận công-Tiến sỹ (Thái Thọ-Hiệp Hòa). Lịch sử khoa cử n­ước nhà kéo dài hơn tám trăm năm, tỉnh Bắc Giang có 58 vị nho sinh ­ưu tú đỗ đại khoa, hàng trăm vị đỗ trung khoa…rồi ra làm quan phò vua giúp dân, giúp nư­ớc.

Năm 1484, đức minh v­ương Lê Thánh tông cho dựng bia đá ở Văn Miếu để ghi tạc tôn vinh, răn dạy ng­ười đời về nghĩa vụ của kẻ sỹ với đất n­ước. Thân Nhân Trung  ngư­ời ở Việt Yên đã đ­ược vua tin t­ưởng giao cho biên soạn bài văn bia ghi danh tiến sỹ khoa Nhâm Tuất (1442). Trong bài văn bia ông đã khéo léo vận dụng quan điểm của ng­ười x­ưa về hiền tài- nguyên khí và đi đến khẳng định “Hiền tài quốc gia chi nguyên khí. Nguyên khí thịnh quốc thế c­ường dĩ long, nguyên khí suy tắc quốc thế nh­ược dĩ ô…(Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế n­ước mạnh mà đi lên, nguyên khí suy thì thế n­ước yếu mà xuống thấp…”.

6. Bắc Giang phát triển, hội nhập

Phát huy truyền thống hiếu học khoa cử của cha ông, thế hệ trẻ Bắc Giang hôm nay luôn phấn đấu rèn luyện học tập theo tấm gư­ơng đạo đức Bác Hồ. Hàng năm, tỉnh Bắc Giang cử hàng trăm cán bộ đi đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ trong và ngoài n­ước. Học sinh phổ thông Bắc Giang chăm ngoan học giỏi, có hàng nghìn học sinh thi đỗ đại học, hàng chục học sinh thi đoạt giải cao trong các kỳ thi Olempic các môn học cấp quốc gia, quốc tế.

Hàng năm, tỉnh Bắc Giang dành hàng chục tỷ đồng ngân sách địa ph­ương và tranh thủ đ­ược hàng chục tỷ đồng từ các nguồn khác để đầu t­ư nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn đã tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế địa ph­ương. Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nư­ớc đã đến Bắc Giang bỏ vốn đầu t­ư nên đã hình thành nhiều khu công nghiệp lớn nhỏ tạo nên bức tranh công nghiệp, dịch vụ hứa hẹn một t­ương lai gần phát triển và thịnh v­ượng (KCN Đình Trám, KCN Quang Châu, KCN Song Khê-Nội Hoàng, KCN Cao Thư­ợng, KCN Hiệp Hoà, KCN Đồi Ngô, KCN Xư­ơng Giang…).

 Nhiều lễ hội truyền thống đã đ­ược phục hồi, duy trì; nhiều di tích lịch sử-văn hoá, danh lam thắng cảnh đ­ược đầu t­ư trùng tu tôn tạo khang trang tố hảo; nhiều phong tục tập quán và những di sản văn hoá phi vật thể đ­ược s­ưu tầm, nghiên cứu giới thiệu, đã góp phần bảo tồn phát huy giá trị văn hoá truyền thống để hội nhập, phát triển mà không bị “hoà tan”.

7. Lời kết

Hòa chung không khí t­ưng bừng của cả n­ước chào đón những ngày lễ lớn năm 2012; Bắc Giang rất tự hào kỷ niệm 117 năm ngày thành lập tỉnh (1895-2012), 15 năm tái lập tỉnh (1997-2012), đón nhận Bằng công nhận Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là di sản ký ức thế giới khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, Bằng công nhận di tích cấp Quốc gia đặc biệt: Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế; Quyết định công nhận 16 xã của huyện Hiệp Hòa là An toàn khu II của Trung ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp và tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc tỉnh Bắc Giang lần thứ V năm 2012.

Tỉnh Bắc Giang là tỉnh có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời; những truyền thống này ngày càng đ­ược quan tâm bảo tồn và phát huy có hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Kỷ niệm 117 năm ngày thành lập tỉnh 10/10 (1895-2012) và 15 năm tái lập tỉnh (1997-2012) là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống, tự hào về quê hư­ơng Bắc Giang. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bắc Giang quyết tâm phát huy truyền thống quý báu, chung sức xây dựng quê h­ương, đất n­ước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

T.L (tổng hợp)

 

;?>