• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4490857
  • Số người đang xem: 25
  • Trong ngày: 5517
  • Trong tuần: 22149
  • Trong tháng: 658614
  • Trong năm: 4138634
Trang chủ

Đồn Phồn Xương

( 14:10 | 09/10/2012 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Đồn Phồn Xương nằm trong cụm di tích căn cứ Phồn Xương nay thuộc thị trấn Cầu Gồ, huyện Yên Thế. Cụm cứ điểm gồm đồn chính Phồn Xương, các đồn phụ Am Đông, Trại Cọ, Hố Lẩy, công sự Tổ Cú, đồn phụ Cả Can, đồn Hà Triều Nguyệt bao quanh trên địa bàn hai xã Phồn Xương và Tân Hiệp, xây dựng năm 1894-1895. Nơi đây Đề Thám và bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở lâu nhất chỉ đạo đường lối chiến lược chiến thuật của nghĩa quân Yên Thế. Đồn Phồn Xương cách tỉnh lỵ Bắc Giang 30 km về phía Tây; từ thành phố Bắc Giang, xuôi theo trục đường quốc lộ 1A (cũ) qua cầu Sông Thương, rẽ phải theo tỉnh lộ 398 tuyến Bắc Giang-Cầu Gồ. Đồn Phồn Xương nằm ở trung tâm thị trấn Cầu Gồ.

Đồn Phồn Xương còn có tên gọi Đồn Gồ, Đồn Cụ nằm ở phía Nam của quả đồi cao gần 20m cách suối Gồ gần 800m về phía Nam. Nay quả đồi này gọi đồi Phồn Xương hay đồi Bà Ba thuộc thị trấn Cầu Gồ. Đây là một căn cứ có quy mô lớn cấu trúc khác với đồn Hố Chuối và các đồn khác. Đồn có bình đồ kiến trúc gần giống hình chữ nhật nằm chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có diện tích chừng hơn một mẫu Bắc Bộ gồm hai vòng thành. Vòng thành ngoại bắt đầu từ sườn đồi phía Đông chạy vòng ôm lấy chân đồi lên tới đỉnh đồi phía Bắc thành hình vòng cung bảo vệ cho thành nội dài 140m, dày 0,80m và cao 4m. Dãy tường thành nội nằm trên đỉnh ngọn đồi gần giống hình chữ nhật. Tường thành nội mặt Đông dài 71m, mặt Bắc dài 85m. Tường đắp bằng đất nện, chân dày 2m, cao 3m và trên mặt còn rộng 1m. Bên trong tường thành có 3 cấp khác nhau có thể đứng hoặc quỳ đều bắn được. Xung quanh tường đều có lỗ châu mai. Mặt tường phía ngoài đắp dốc thoai thoải như mái nhà.

Đồn Phồn Xương có 3 cổng: Cổng chính trông về hướng Đông còn hai cổng phụ ở phía Nam và phía Bắc. Hai cổng phụ đều thông ra với những cánh rừng rậm xung quanh. Đặc biệt cổng phía Bắc nối liền với cánh rừng của nửa đồi còn lại. Hai cổng phụ rộng 1,50m hiện nay không còn nguyên vẹn, cổng chính cách bờ tường phía Bắc là 15m, rộng 2m có 4 bậc lên xuống. Bên trong cổng chính còn một trạm gác nằm ở sườn tường phía Bắc hình vuông mỗi cạnh 2m. Bên trong cửa chính có hai lớp tường đất bảo vệ và chọc nhiều lỗ châu mai. Các cổng đều có hai lượt cửa, bên ngoài cổng cánh, bên trong cổng toang và đều làm bằng gỗ lim. Đồn được bố trí ngoài cùng là các bốt gác, tiếp theo là các đồn phụ, hệ thống giao thông hào rồi lại đến vòng thành bao bọc. Khoảng cách giữa hai vòng thành chỗ rộng nhất là 20m, hẹp nhất là 10m. Trong vòng thành là một không gian rộng bao gồm hệ thống nhà ở, nhà khách, nhà kho… tất cả đều là nhà tranh vách đất trộn rơm. Chỉ trừ chiếc nhà vuông tiếp khách là được xây bằng gạch. Lần lượt từ phía Bắc xuống phía Nam thành là nhà ở của Hoàng Hoa Thám và Bà Ba, nhà có 5 gian chạy theo hướng Tây Đông. Nhà thứ hai hình vuông bốn mặt để trống dùng làm nơi họp bàn của Hoàng Hoa Thám với tướng lĩnh và tiếp khách. Nhà tiếp theo gồm hai dãy nằm sát hai cạnh Tây Đông của thành, là nhà ở của nghĩa quân. Tiếp theo gồm 8 gian nhà bếp và chuồng ngựa nằm sát ở cạnh phía Nam của thành chạy theo hướng Đông Tây, tiếp nữa là cột đèn và cột cờ.

Như vậy, cách kiến trúc đồn Phồn Xương là một kiểu kiến trúc đặc biệt. Nó không những đáp ứng được yêu cầu là một đồn lũy thành trì mà nó còn giải quyết linh hoạt việc cơ động chiến đấu và đáp ứng được cả yêu cầu là một sở chỉ huy, nơi giao dịch nghĩa quân. Trải thời gian mưa nắng, hệ thống thành lũy và các công trình nhà ở trong thành được đắp bằng đất nện cũng dễ bị bào mòn. Nay những công trình nhà ở trong thành không còn, phần tường thành cũng không còn giữ được nguyên vẹn như xưa. Riêng đoạn mặt tường thành phía Đông còn giữ được nhiều nét kiến trúc cũ. Trên tường thành còn những vết đạn lỗ châu mai khá rõ. Trong thành hiện xây đền thờ Bà Ba. Hằng năm, vào các ngày 16 tháng 3 dương lịch lễ hội Yên Thế lại diễn ra trên quần thể di tích này.

Đồn Phồn Xương là nơi đóng quân thời kỳ hoà hoãn thứ 2 với giặc Pháp. Đồn nằm trên một ngọn đồi, xung quanh là những cánh rừng rậm rạp. Từ sau năm 1901, Đề Thám cho đắp đồn với 2 lần tường luỹ, có mũ tường, lỗ châu mai; đây được coi là đại bản doanh của Hoàng Hoa Thám được xây dựng trong hai năm 1894-1895. Sau nhiều lần tấn công vào Yên Thế thất bại, cuối năm 1897 toàn quyền Đông Dương là Đume buộc phải chấp nhận hoà hoãn với nhiều điều khoản do Đề Thám đưa ra. Tranh thủ 13 năm hoà bình (1897-1909), Đề Thám vừa lo củng cố lực lượng quân sự vừa chú trọng phát triển kinh tế - văn hoá, xây dựng vùng Phồn Xương thành "một thế giới riêng biệt... giữa cái nơi gió mưa tanh tưởi" bốn bề là lũ giặc cướp nước. Phía sau đồn Phồn Xương là doanh trại, chiến lũy của nghĩa quân Đề Thám. Ông đã cho xây dựng ở khu vực này một bát quái trận với nhiều đồn lũy thông nhau, sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào.Bộ tham mưu chính của Đề Thám như Cai Thanh, Cả Trọng, Bà Ba...cùng tập trung ở đồn này. Đây còn là nơi đào tạo tuyển nạp binh sỹ, nơi thu hút các bậc tướng lĩnh, nơi tập hợp lực lượng yêu nước từ các địa phương tới. Chính trong thời gian hoà hoãn, dưới sự lãnh đạo của Đề Thám, các hoạt động văn hoá, lễ hội ở Yên Thế diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.

Tại đồn Phồn Xương, trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế đã diễn ra những khung cảnh sinh hoạt của nghĩa quân Yên Thế làm nức lòng người dân. Nhân dân trong vùng tự nguyện đến cày bừa cấy hái giúp nghĩa quân. Hội hè được tổ chức với nhiều trò chơi dân gian như thi nấu cơm, làm bánh, đấu vật, chọi gà, cưỡi ngựa, bắn cung, nỏ... Các đội tuồng Đồng Kỵ, Thổ Hà được Hoàng Hoa Thám mời lên trình diễn. Nhiều nghĩa sĩ yêu nước từ các nơi đến thăm hội kiến với Đề Thám tại Phồn Xương như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu. Sử cũ chép rằng, khi về Yên Thế tiếp kiến với Hoàng Hoa Thám, chí sĩ Phan Bội Châu đã ngỡ ngàng, thảng thốt trước Phồn Xương: "… Những người bị khổ sở về chính quyền bạo ngược đều lấy doanh trại của tướng quân Hoàng Hoa Thám làm nơi ẩn trú. Vì thế, người rất đông đúc, tiếng gà tiếng chó rộn vang tựa như một cảnh tân đào nguyên của những bậc lánh đời vậy. Năm nọ, tôi hai lần tới đồn, xem khắp chung quanh, trâu cày từng đội, chim rừng quyện người, đàn bà trẻ con nhởn nhơ tiếng chày rậm rịch, có cái vẻ vui của những ngày đình đám hội hè mà không hề có tiếng thở than về chính quyền bạo ngược và mãnh hổ hại người. Tạo lập được một thế giới riêng biệt, thực là một nỗ lực riêng của tướng quân…".  Cũng tại đây Đề Thám còn tổ chức các ngày hội xuống đồng vào vụ cấy vụ gặt. Quang cảnh lao động sản xuất vui tươi ấy, có cả Đề Thám, Bà Cả, Bà Ba, Cả Dinh, Cả Trọng và các tướng lĩnh, các nghĩa quân cùng tham gia. Bọn Pháp cũng phải nhận thấy vai trò to lớn của căn cứ Phồn Xương, tại đây Đề Thám đã đón tiếp nhiều nhà nho từ các tỉnh xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ kéo đến… Có những người Thổ từ sông Đà từ miền Tuyên Quang đến trú; họ là những tráng đinh cao lớn vạm vỡ, những người của rừng sâu núi thẳm, không bao giờ rời con dao rừng có chiếc vỏ gỗ, những người đi bộ gồng gánh không biết mỏi, một loạt quân mới tuyển rất quý giá để dùng vào lúc người ta đào lên 400 khẩu súng cất giấu giữa rừng Phồn Xương. Phía sau đồn Phồn Xương vẫn còn một xóm nhỏ mà ngày nay được đổi tên thành phố Bà Ba. Tương truyền, ngày trước chính chỗ này là nơi ở của bà Ba Cẩn-vợ ba Hoàng Hoa Thám, người vợ mà ông yêu thương nhất, cũng là một tướng tài của cuộc khởi nghĩa. Khoảng cuối những năm 80 của thế kỷ XX, con gái của cụ Hoàng Hoa Thám là bà Hoàng Thị Thế có về đây và khi mất, bà được chôn cất tại đây, trên tấm bia mộ chỉ ghi dòng chữ thật giản dị: "Bà Hoàng Thị Thế, sinh năm 1901, mất 9.12.1988".

 Có thể nói Phồn Xương chính là thủ phủ của cuộc khởi nghĩa, nơi bắt đầu để mở mang phong trào ra các địa phương. Tại đây nghĩa quân đã chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc tiến công trên quy mô lớn của thực dân Pháp do đại tá Vát-tay chỉ huy ngày 29-1-1909. Với những giá trị lịch sử, văn hóa đó, đồn Phồn Xương là một trong 23 điểm di tích được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10/5/2012 xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt.                                                       

Đồng Ngọc Dưỡng

;?>