• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5037154
  • Số người đang xem: 13
  • Trong ngày: 1803
  • Trong tuần: 23833
  • Trong tháng: 1204911
  • Trong năm: 4684931
Trang chủ

Tìm mộ đồng hương Bắc Giang ở Côn Đảo

( 10:56 | 24/07/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Đầu tháng 5 năm nay (2009), tôi cùng các văn nghệ sĩ, hội viên hội VHNT các DTTS Việt Nam có chuyến ra thăm và đi thực tế sáng tác tại Côn Đảo. Trong dịp này, tôi có ước nguyện tìm đến tận nơi an nghỉ cuối cùng của các đấng tiền nhân người Bắc Giang, thắp nén hương thơm trên mỗi ngôi mộ để cẩn báo với các cụ rằng: đứa cháu  đồng hương đã đến thăm và vô cùng biết ơn các cụ đã quên mình vì quê hương, đất nước.

Tôi được biết : suốt 113 năm (1862- 1975), có hơn hai vạn tù nhân đã bỏ mình ở Côn Đảo, hiện nay chỉ có khoảng một phần mười trong số đó là còn mộ, các ngôi mộ đều được an táng và quy tập tại nghĩa trang Hàng Dương. Số mộ xác định được tên tuổi chỉ vào khoảng hơn 700 ngôi.

Nghĩa trang Hàng Dương rộng mênh mang (khoảng 20 héc-ta), được phân theo từng khu A,B,C,D, mỗi khu rộng vài héc-ta. Nơi đây không có vành lao như nhiều nghĩa trang liệt sĩ mà tôi từng biết, các ngôi mộ nằm rải rác, lan man trong rừng, dưới những gốc cây. Chỉ có rất ít các ngôi mộ được xây cất đặc biệt, kiểu lăng nhỏ như mộ của chí sĩ Nguyễn An Ninh, liệt sĩ Lê Hồng Phong, Võ Thị Sáu, Nguyễn Chí Hiếu, các mộ còn lại đều giống như nhau, với phần mộ quây thấp (chừng hai chục phân) hình chữ nhật nho nhỏ, trên mặt xếp đá cuội, phía trước có xây một cột trụ vuông cao chừng 70 phân, bên trên gắn tấm đá hoa cương nằm chênh chếch, kích thước 25x30cm màu đỏ, có ngôi sao nổi. Ngôi mộ nào xác định được danh tính, thì trên tấm đá hoa cương hình lá cờ tổ quốc có khắc thêm tên và quê quán.

Trong thời gian ở Côn Đảo, đã hai lần tôi đến viếng nghĩa trang Hàng Dương và tìm mộ các anh linh của quê nhà.

Lần thứ nhất, tôi đi cùng đoàn văn nghệ sĩ hội VHNT các DTTS Việt Nam đến đặt vòng hoa, làm lễ tại đài tưởng niệm và đi thăm viếng các khu mộ.  Sau khi thắp hương tại mộ liệt sĩ Võ Thị Sáu ở khu B, tôi đi ra xung quanh, chăm chú để ý tìm mộ của các cụ đồng hương. Tôi cứ vòng đi vòng lại đi khắp khu B đến tận trưa trật mà vẫn không tìm thấy ngôi mộ nào của các cụ là người Bắc Giang

Lần thứ hai, trước khi lên tàu trở về đất liền, tôi quay lại nghĩa trang Hàng Dương để tìm mộ, được các cô ở Ban quản lý di tích lịch sử cách mạng nhà tù Côn Đảo tận tình chỉ dẫn, theo sơ đồ lưu trên máy tính. Các cô cũng cho tôi hay: ở đây chỉ có ba ngôi mộ xác định được danh tính là người Bắc Giang, đó là các cụ: Nguyễn Văn Mẫn (sinh 1909, mất 3/3/ 1943) mộ táng tại khu A, hai là cụ: Ninh Thế Tài (sinh 1925, mất 11/9/1974),và cụ Ngô Văn Huân quê ở Mỹ Độ (sinh 1907, mất 4/4/1963) cùng được táng tại khu C.

Xem sơ đồ trên máy tính, tôi thấy mộ cụ Nguyễn Văn Mẫn ở xa nhất, lại thuộc khu mộ được chôn đầu tiên trước năm 1945, không có hàng lối nên khó tìm, vì vậy tôi đã quyết định đến tìm ở đây trước.  Tôi châm một bó hương lớn, đi khắp khu A để tìm mộ cụ Mẫn.

 Theo như chỉ dẫn của các cô ở Bảo tàng Côn Đảo thì ngôi mộ tôi muốn tìm ở gần lối đi từ ngôi mộ liệt sĩ Lê Hồng Phong rẽ sang. Vì vậy, khi tới mộ bác Lê Hồng Phong, tôi đã thắp hương và khấn rằng:

- Bác Lê Hồng Phong ơi! Cháu từ Bắc Giang vào đây, muốn đến thăm tận nơi để thắp hương lên phần mộ các bác người Bắc Giang quê cháu hy sinh ở đây. Kính xin bác phù hộ, độ trì cho cháu tìm được mộ của các bác ấy!

Thế nhưng, hẳn là tôi đã mắc lỗi gì đó mà lời cầu xin không được linh ứng. Tôi đi khắp khu A, cũng vòng đi vòng lại không biết bao nhiêu lần, chân mỏi rã rời, mặt đỏ nhừ, mồ hôi vã ra ướt đầm áo, cẩm thấy sốt ruột vô cùng mà vẫn không gặp ngôi mộ nào ghi tên Nguyễn Văn Mẫn. Những người dân làm việc gần đó thấy tôi thất thểu, cực đến phát khóc mà vẫn không tìm được mộ thì thương hại quá. Bốn năm người xúm lại, chia nhau đi tìm giúp. Chúng tôi đã vất vả suốt hơn hai tiếng đồng hồ mà chẳng kết quả gì. Cuối cùng, tôi đành cắm hết bó hương vào các ngôi mộ xung quanh rồi buồn bã, ứa nước mắt ra về, không thể đến khu C để tìm mộ các cụ Ngô Văn Huân và Ninh Thế Tài được nữa, bởi chỉ còn 20 phút nữa là tôi phải cùng đoàn theo xe ra bến Đầm, chuẩn bị lên tàu…

Về tới Bắc Giang, tôi kể lại chuyện đi tìm mộ cụ Mẫn ở Côn Đảo thì có người bạn bảo  con cháu của cụ Mẫn đã đưa hài cốt cụ từ Côn Đảo về quê, đặt mộ tại nghĩa trang Tân An, bên cạnh mộ người bạn đời và cũng là đồng chí của cụ là cụ bà Mai Ngọc Tuyết (1908-1994). Thì ra, cả hai cụ đã cùng hoạt động trong tổ chức Việt Nam thanh niên đồng chí hội, đều được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng vào năm 1929. Cụ bà Mai Ngọc Tuyết quê ở Hà Nội, từng làm Hội trưởng Hội LHPN tỉnh Bắc Giang, Phó Chủ tịch MTTQ tỉnh Bắc Giang.

 Hiện nay, ở thành phố Bắc Giang có một đường phố mang tên Nguyễn Văn Mẫn.

Tôi được biết: đồng chí Nguyễn Văn Mẫn sinh ra và lớn lên ở phố Tiền Môn, thành phố Bắc Giang, hoạt động cách mạng từ trước năm 1930. Vào những năm 1925-1926, đồng chí Nguyễn Văn Mẫn tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh nên bị đuổi ra khỏi trường kỹ nghệ. Đầu năm1928, đồng chí Nguyễn Văn Mẫn được kết nạp vào Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, hoạt động tại thị xã Phủ Lạng Thương (nay là thành phố Bắc Giang). Đồng chí lập ra một đội kịch chuyên diễn những vở đả kích bọn quan lại phong kiến và thực dân đế quốc, được các bạn trẻ và đồng bào cổ suý và đi xem rất đông. Bọn thực dân và bè lũ phong kiến đã giải tán đội kịch và bắt giam đồng chí Mẫn hai tháng. Vào tháng 6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập, đồng chí được kết nạp vào Đảng và được giao nhiệm vụ tham gia Ban Tỉnh uỷ Nam Định, gây dựng cơ sở Đảng trong công nhân các nhà máy sợi, máy tơ, máy điện và phong trào thanh niên. Đầu năm 1930, đồng chí Nguyễn Văn Mẫn là khu uỷ viên, nhận nhiệm vụ đặc biệt của Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng, sau đó lại trở về hoạt động tại một vùng nông thôn trong tỉnh Bắc Giang. Tháng 1/1933 đồng chí bị địch bắt tại Phủ Lạng Thương, một tháng sau đó thì bị chúng đày lên Sơn La. Đến tháng 8/1933 bọn thực dân Pháp lại đày đồng chí và phần lớn các đồng chí ở nhà tù Sơn La ra Côn Đảo. Ở Côn Đảo, do bị kẻ thù đầy đoạ và tra tấn rất dã man khiến đồng chí bị mắc bệnh lao rồi qua đời vào ngày 3/3/1943 tại Chuồng cọp.

 Ban quản lý di tích lịch sử cách mạng nhà tù Côn Đảo đã vô cùng ân hận và áy náy khi biết chuyện tôi đi tìm mộ cụ Mẫn hai lần mà không thấy. Gọi điện cho tôi, cô gái tên là Thuý ở bảo tàng Côn Đảo thủ thỉ: “ Chú ơi! ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn Mẫn và hai cụ Ngô Văn Huân, Ninh Thế Tài người Bắc Giang quê chú còn ở nguyên như con đã chỉ dẫn mà! Con sẽ gửi qua email cho chú ảnh của ba ngôi mộ mà chú muốn tìm đó. Từ trước tới nay, Ban quản lý di tích lịch sử cách mạng nhà tù Côn Đảo không giải quyết cho bất kỳ một trường hợp nào muốn di rời hài cốt người thân về quê hương đâu chú! Ngay mộ của đồng chí Lê Hồng Phong ở quê nhà cũng chỉ là xin một nắm đất ở phần mộ trong này mà thôi!”

Hai lần đến nghĩa trang Hàng Dương tìm mộ các cụ mà không được khiến tôi ân hận, day dứt mãi không thôi.Tôi cứ tự trách mình sao lại quá say cảnh đẹp cùng những món đặc sản biển, mê mẩn nụ cười, tiếng hát của các cô gái trong quán Ka-ra-ô-kê trên hòn đảo ngọc… để rồi ra về không kịp thắp cho các anh linh quê mình một nén nhang.

Quang Đại

 

;?>