• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 592087
  • Số người đang xem: 53
  • Trong ngày: 1191
  • Trong tuần: 1191
  • Trong tháng: 592040
  • Trong năm: 592087
Trang chủ

Các vị đại khoa tuổi Tỵ tỉnh Bắc Giang

( 10:57 | 04/02/2013 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Nằm trong vùng văn hoá Kinh Bắc xưa, Bắc Giang là nơi sản sinh ra nhiều danh tài khoa bảng, có những đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ phong kiến, mang lại niềm tự hào cho đất nước, quê hương. Tổng hợp các nguồn tư liệu chính sử thì Bắc Giang có tổng số 58 vị tiến sĩ, trong đó có 5 vị tuổi Tỵ.

1. Giáp Lễ: Sinh năm Ất Tỵ (1545), người xã Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang. Ông là con trai của Trạng nguyên Giáp Hải, được học hành chu đáo. Năm Mậu Thìn niên hiệu Thuần Phúc thứ 4 (1568) ông 23 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu thảo.

2. Nguyễn Tảo: Sinh năm Quý Tỵ (1553), người làng Thì Mại, nay thuộc xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang. Ông là cháu nội của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Lan. Khi Nguyễn Tảo sinh, ông nội đang làm quan nên ông có điều kiện học hành để bước vào sự nghiệp khoa cử, hoạn lộ. Năm Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Ninh thứ 2 (1592) đời Mạc Mậu Hợp ông 39 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp). Khoa thi này đất Kinh Bắc đỗ 7 vị, trong đó thuộc Bắc Giang ngày nay có 2 vị là Nguyễn Tảo và Nguyễn Đức Trung. Nguyễn Tảo được triều Mạc trọng dụng làm quan đến chức Thị lang. Khi nhà Mạc mất ông không ra làm quan cho nhà Lê nên tuẫn tiết mà chết. Như vậy trong lịch sử khoa cử nước nhà thời phong kiến thì huyện Bảo Lộc xứ Kinh Bắc xưa có 2 vị nho sĩ ưu tú đỗ đại khoa là 2 ông cháu Nguyễn Xuân Lan và Nguyễn Tảo.

3. Thân Khuê: Sinh năm Kỷ Tỵ (1593), người làng Phương Đỗ, xã Hương Mai, huyện Việt Yên (nay là làng Phương Đậu, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang). Năm Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) ông 35 tuổi thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Làm quan tới chức Tham chính. Năm Dương Hòa (1637) được cử làm phó sứ đi sứ nhà Minh, mất trên đường đi, được tặng Công bộ Hữu thị lang, tước hầu.

4. Thân Toàn: Sinh năm Tân Tỵ (1621), người làng Phương Đỗ, xã Hương Mai, huyện Việt Yên (nay là làng Phương Đậu, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang). Ông là con của Tiến sĩ Thân Khuê. Năm Nhâm Thìn, niên hiệu Khánh Đức thứ 4 (1652) ông 31 tuổi thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan trải các chức Đô Ngự sử, tả thị lang bộ Hộ (1676), được cử đi sứ sang nhà Thanh (1682). Sau trở về thăng đến chức Tham tụng, Thượng thư bộ Binh, tước bá. Về trí sĩ. Khi mất được tặng chức Lại bộ Thượng thư, hàm Thiếu bảo.

5. Phạm Túc Minh: Sinh năm Tân Tỵ (1461), người làng Cổ Dũng, xã Tiến Dũng, huyện Yên Dũng. Năm Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) ông 29 tuổi thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp). Cuộc đời ông gắn trọn với giai đoạn thịnh trị của chế độ phong kiến Việt Nam, đời vua Lê Thánh Tông cuối thế kỷ XV.

Cùng với vị đại khoa khác của Bắc Giang, các vị Tiến sĩ tuổi Tỵ đã đóng góp nhiều công sức trong việc hộ quốc an dân, xây dựng đất nước, quê hương trong lịch sử. Nền khoa cử Nho học đã kết thúc gần một thế kỷ, song các danh nhân khoa bảng vẫn mãi là niềm tự hào của các thế hệ người Bắc Giang. Truyền thống hiếu học và khoa bảng của ông cha đã tô thắm thêm truyền thống văn hoá của vùng đất Kinh Bắc, để lại cho đời sau tấm gương sáng về tinh thần học tập thành đạt, trở thành những người có đủ tài đức phụng sự đất nước./.

Nguyễn Thị Nga

 

 

;?>