• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4312915
  • Số người đang xem: 30
  • Trong ngày: 4097
  • Trong tuần: 9623
  • Trong tháng: 480672
  • Trong năm: 3960692
Trang chủ

Bảo tồn kho Mộc thư bản chùa Vĩnh Nghiêm

( 09:30 | 29/07/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

1. Chùa Vĩnh Nghiêm.

Chùa Vĩnh Nghiêm  từ xa xưa có tên gọi là Chúc Thánh thiền tự, trong dân gian quen gọi là chùa La, hay chùa Đức La, vì chùa tọa lạc trên phần đất thuộc xã Đức La, huyện Phương Nhãn xưa, nay là thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên huyện Yên Dũng. Đây một đại danh lam cổ tự, một Thiền viện - Trung tâm đào tạo tăng đồ trong suốt thời gian gần tám thế kỷ hình thành và phát triển của Phật phái Trúc Lâm Yên Tử. Chùa Vĩnh Nghiêm đã được các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa xem như một bảo tàng văn hoá Phật giáo Đại thừa khá tiêu biểu ở miền Bắc Việt Nam.

Di vật cổ kính ở chùa Vĩnh Nghiêm rất phong phú, đa dạng, mỗi nhóm hiện vật đều xứng đáng xếp thành một bộ sưu tập khá hoàn chỉnh, đó là: Sưu tập tượng thờ, có hơn một trăm pho được bài trí ở toà Tam bảo, Tổ đệ nhất,Tổ đệ nhị, Khách đường. Bộ tượng ở đây cũng có mấy nhóm như: Tượng Phật, tượng Tổ (Tổ phái, Tổ chùa), tượng Hậu, tượng Thánh...được bài trí theo mô hình chuẩn mực lý tưởng và được tạc tạo thời Lê- Nguyễn; Hệ thống văn bia (8 tấm) cơ bản soạn khắc ở thế kỷ 17, 18 và tấm soạn khắc muộn nhất năm 1932 ghi lại toàn bộ lịch sử  phát triển của trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm; Hệ thống hoành phi- câu đối, đồ thờ, kho kinh sách nhà Phật, mộc bản...tất cả đều xứng đáng là những bảo vật quốc gia.

Một trong những di sản văn hoá đặc biệt quý giá ở chùa Vĩnh Nghiêm mà hiếm nơi nào trên đất nước ta còn lưu giữ được là kho mộc bản, thực chất đó là những trang sách bằng gỗ được các vị sư tổ Thiền phái Trúc Lâm ở chùa Vĩnh Nghiêm cho san khắc từ những năm giữa thế kỷ 18 (triều vua Lê Cảnh Hưng) đến đầu thế kỷ 20.

2. Vấn đề nghiên cứu, bảo tồn kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm.

Nhận thức và đánh giá cao giá trị lịch sử văn hóa, nghệ thuật kho mộc bản ở chùa Vĩnh Nghiêm nên lãnh đạo ngành văn hóa cũng như các chuyên gia văn hóa xưa nay luôn trăn trở tìm phương pháp bảo tồn, đồng thời phát huy giá trị đặc sắc kho mộc bản có hiệu quả cao nhất.

Năm 1964, Bộ Văn hóa đã kiểm kê, thiết lập hồ sơ công nhận và bảo vệ cho di tích chùa Vĩnh Nghiêm. Những năm sau đó, nhiều chuyên gia văn hóa ở trung ương và địa phương tiếp tục điều tra, khảo sát, nghiên cứu, công bố bài khảo cứu liên quan đến sự hình thành, phát triển và không gian văn hóa Phật giáo chùa Vĩnh Nghiêm.

Năm 1994, dù điều kiện lực lượng cán bộ chuyên môn mỏng cũng như thời gian, kinh phí hạn chế, nhưng Bảo tàng tỉnh Hà Bắc (nay là Bảo tàng Bắc giang) đã cố gắng thực hiện kiểm tra, đánh giá hiện trạng kho và kiểm kê đầu sách ở kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm.

Đợt này, đơn vị  đã kiểm tra 7 kệ đặt ở tòa Tam bảo và Nhà Tổ đề nhất. Sơ bộ thống kê có tổng số hơn ba nghìn bản lẻ, trong đó hầu hết là kinh, sách thuốc, luật giới nhà Phật. Số còn lại là trước tác của Tam thế tổ và một số vị cao tăng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử (thơ, phú, nhật ký...) được khắc bản cách đây trên dưới hai trăm năm.

Theo dòng lạc khoản khắc ở bài tựa và dòng lạc khoản cuối các cuốn kinh- sách được biết, kho mộc thư chùa Vĩnh Nghiêm cơ bản khắc in dưới triều vua Tự Đức, Thành Thái nhà Nguyễn (nửa sau thế kỷ 19 ), một số ít được khắc dưới triều vua Cảnh Hưng, nhà Lê (nửa cuối thế kỷ 18 ). Qua sơ bộ kiểm kê và căn cứ vào bản tâm, thượng ngư vĩ của mộc bản thấy rằng: kho mộc bản có hơn ba chục đầu kinh- sách các loại, trong đó quá nửa là mộc bản san khắc bộ Hoa Nghiêm kinh; còn lại là Di Đà kinh, Quan Thế âm kinh, Tì Kheo ni giới kinh, Khai thánh chân kinh...và các sách, luật nhà Phật. Dưới đây là bảng thống kê tên đầu kinh- sách năm 1994:

TT

Tên đầu sách

TT

Tên đầu sách

1

Hoa Nghiêm kinh

17

Di Đà kinh

2

Kết hữu phàm tứ huấn

18

Thiếu thất phú

3

Bản nguyện chân kinh

19

Khai thánh chân kinh

4

Quan Thế âm kinh truyện

20

Kim khoa ngọc luật

5

Yên Tử nhật trình

21

Tây phương mỹ nhân

6

Tỳ Kheo ni giới kinh

22

Đại thừa chỉ quán

7

Thái vi công quá cách

23

Thiền tông bản hạnh

8

Khuyến thế lương ngôn

24

Phụ kinh nghiệm cấp cứu phương

9

Quá dâm thuyết

25

Thần du phương ký

10

Sa Di ni giới kinh

26

Văn Xương kiến thế văn

11

Thiền tịch phú

27

Văn xương đế quân giới dâm văn

12

Thượng đế khuyến thế văn    

28

 Giới thực ngưu nhục

13

 An thai phôi sinh phương

29

Đáp tịnh độ vấn tuỳ đáp vấn

14

Tịnh độ sám nguyện

30

Giới thập đổ điều

15

Sa Di ni uy nghi

31

Thái thượng cảm ứng biên

16

Thích Ca giáng đản truyền

32

Đế quân cứu thế văn

Các mộc bản này đều bằng chất liệu gỗ thị, có nhiều kích cỡ khác nhau tùy theo mộc bản của từng kinh sách. Vì đã qua nhiều lần in cho nên các mảnh ván đều có màu đen bóng bởi bề mặt được phủ một lớp dầu mực in khá dày. Lớp dầu mực này thấm sâu vào ruột gỗ, cho nên có tác dụng chống thấm nước, ẩm mốc, mối mọt rất hiệu quả. Phần lớn ván in được khắc chữ Hán trên hai mặt, kiểu chữ chân phương, chữ khắc sâu, sắc nét và đều khắc ngược (âm bản). Mỗi mặt ván 2 trang sách, khắc chạm đúng chuẩn mực theo kiểu đóng sách của người xưa. Biên lan có khung viền 4 lề trang sách, gồm 1 đường chỉ to và 1 đường chỉ nhỏ (người xưa gọi là Văn vũ Biên lan). Bản tâm (hay Bản khẩu) thường khắc dòng chữ cho biết tên sách (Hoa khẩu), thứ tự trang sách. Thượng  hạ Bản tâmNgư vĩ (Đuôi cá) theo kiểu song Ngư vĩ. Tả hữu, thượng hạ Biên lanThiên đầu- Địa cước rộng chừng 2,5 cm. Nhiều trang được các nghệ nhân xưa khắc đan xen thêm những bức minh hoạ, đường nét tài hoa tinh tế, nét chữ bay bổng, siêu thoát, bố cục chặt chẽ hài hoà xứng đáng là tác phẩm đồ hoạ trứ danh của mọi thời đại.

Có thể nói, kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là bảo vật vô giá của quốc gia. Qua kho bảo vật này người đời có thể khai thác lượng thông tin phong phú, đa lĩnh vực như: Lịch sử Phật giáo, tư  tưởng- văn hoá hành đạo, nhập thế của dòng thiền Trúc Lâm, lịch sử nghề khắc in mộc bản, thân thế sự nghiệp một số vị cao tăng có nhiều cống hiến cho sự phát triển nền văn hoá truyền thống của dân tộc... Hơn nữa, với sự tài hoa khéo léo của nghệ nhân xưa mỗi mảnh ván khắc xứng đáng là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật để đến hôm nay người đời được ngưỡng vọng và có thêm nguồn tư liệu tìm hiểu nghệ thuật chạm khắc gỗ Việt Nam  thời Lê- Nguyễn.

Năm 2005, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang tiếp tục kiểm tra tình trạng bảo quản và tiến hành in rập một số sách chữ Nôm như: Thiền tông bản hạnh, Yên Tử nhật trình, Thiền tịch phú...để phiên âm, dịch chú phục vụ xuất bản tập sách khảo cứu về chốn tổ Vĩnh Nghiêm.

Năm 2009, được sự hỗ trợ, khích lệ của Bộ chủ quản, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tiến hành thực hiện chương trình Tư liệu hóa kho ván in kinh chùa Vĩnh Nghiêm, nhưng bản chất, mục tiêu, nội dung của chương trình là tiến hành bảo tồn kho mộc bản ở đây bằng cách kết hợp phương tiện, phương pháp truyền thống và hiện đại để bảo tồn kho mộc bản có hiệu quả cao nhất trong điều kiện cho phép.

Hiện chương trình đang được thực hiện theo kế hoạch. Với lực lượng cán bộ thực hiện tương đối đông, hầu hết là cán bộ chuyên môn được đào tạo chuyên ngành bảo tồn bảo tàng cho nên công việc kiểm kê được thực hiện bài bản, khoa học.

Đợt tổng kiểm kê lần này thống kê có tất cả 3050 đơn vị mộc bản (còn gọi là mảnh ván) và làm vệ sinh sạch sẽ để đánh giá hiện trạng và tìm ra biện pháp bảo quản thích hợp. Sau khi kiểm kê, vệ sinh đã phân loại đã sắp xếp theo thứ tự (số trang, số tập, số quyển) và đánh mã số hiện vật trên gáy, trên phiếu văn vật cho từng mộc bản. Hiện công tác ghi mã số đã hoàn thành, các cán bộ thực hiện chương trình đang triển khai in, nhân bản làm 3 bộ rồi đóng quyển để phục vụ tốt công tác biên dịch, bảo tồn sau này. Theo kế hoạch, sau khi in, đóng quyển xong sẽ kiểm tra số trang bị mất của từng bộ kinh- sách, sau đó tìm bản in xưa kia của những bộ sách đó còn tàng lưu ở các thiền viện hay các kho lưu trữ nhà nước để đối chiếu, khảo dị, tìm chọn bản nền rồi mới tiến hành biên dịch nhằm bổ khuyết nội dung bị mai một và đảm bảo tính khoa học cũng như giá trị ứng dụng của kho mộc bản. Đồng thời với công tác kiểm kê, nhóm thực hiện chương trình cũng tiến hành quay phim, chụp ảnh, lưu đĩa CD kho mộc bản... bằng kỹ thuật số, phương pháp bảo tồn hiện đại có hiệu quả, tiện dụng hiện nay.

3. Những vấn đề nảy sinh khi thực hiện công tác bảo tồn

Mới thực hiện những nhiệm vụ ở giai đoạn đầu của chương trình, nhưng những người thực hiện chương trình tư liệu hóa kho ván in chùa Vĩnh Nghiêm đã thấy có một số vấn đề phức tạp nảy sinh so với kế hoạch đề ra.

 Đó là vấn đề tiến độ thực hiện không đảm bảo, vì số lượng cán bộ tham gia đông nhưng vì phải đảm đương những nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, nên không thể tập trung triển khai nhiệm vụ của chương trình.

 Trong số những cán bộ tham gia chương trình thì số người trực tiếp tham gia ít, trong số tham gia trực tiếp lại có ít người có khả năng in, nhân bản ra sản  phẩm thác bản đảm bảo yêu cầu.

Qua kiểm kê, phân loại, sắp xếp...đã thấy nhiều kinh sách bị mất số lượng mộc bản khá nhiều, mà dự đoán khả năng sưu tầm được dị bản là rất thấp. Cho nên, vấn đề khảo dị, bổ khuyết và chọn bản nền để biên dịch không hứa hẹn những triển vọng khả quan.

Trong tổng số hơn ba nghìn mộc bản đã xuất hiện không ít những mộc bản bị cong, vênh, nứt, mục, hãm gáy bằng tre - gỗ bị mất hoặc rập- mục- gãy. Đối với những mộc bản được in nhiều lần thì mặt ván được phủ lớp dầu mực dày thì chữ nét chữ không bị mục, nhưng những mộc bản ít được in ấn thì bề mặt có chữ của nhiều mảnh ván đã bị nấm mốc xâm hại rất dễ bị tổn hại, mất chữ. Để khắc phục những hiện trạng này những người trực tiếp thực hiện chương trình cần thận trọng mức độ cao nhất để giảm tối đa sự tổn hại, mất nét chữ của mộc bản. Thêm nữa, với kho mộc bản muốn không bị sứt vỡ, mất chữ thì cần hạn chế sự tác động trực tiếp càng an toàn. Cho nên, cần đầu tư thêm nguồn kinh phí để gia cố ván cong vênh bằng cách đóng ốp gáy đồng như một số nước (Nhật Bản, Hàn Quốc ) đã làm, mới hy vọng bảo tồn kho mộc bản lâu dài./.

Nguyễn Văn Phong

;?>