• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4316499
  • Số người đang xem: 50
  • Trong ngày: 2094
  • Trong tuần: 13207
  • Trong tháng: 484256
  • Trong năm: 3964276
Trang chủ

Lục Ngạn xây dựng huyện điểm văn hóa

( 11:20 | 03/09/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Huyện miền núi Lục Ngạn của tỉnh Bắc Giang, có diện tích 1.012.23 km2, dân số xấp xỉ 21 vạn người, gồm 8 dân tộc anh em là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí, Cao Lan, Dao và Hoa cùng chung sống, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 47%. Huyện có 29 xã và 1 thị trấn (18 xã, thị trấn vùng thấp và 12 xã vùng cao, vùng sâu, vùng xã), với 397 thôn, bản. Lục Ngạn triển khai xây dựng huyện điểm văn hoá miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số từ năm 2002. Sau 8 năm thực hiện đã có nhiều chuyển biến tích cực, bản sắc văn hoá của các dân tộc ngày càng được quan tâm bảo tồn và phát huy, đời sống văn hoá cơ sở của nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Ngành VHTT (nay là ngành VHTT&DL) đã tham mưu cho UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 05/2002/QĐ - UBND ngày 16/1/2002 về việc phê duyệt đề án: “Xây dựng và phát triển văn hoá huyện miền núi Lục Ngạn giai đoạn 2001 - 2010’’. Ngày3/4/2002 Bộ VHTT ban hành Quyết định số 752/QĐ-BVHTT về việc chọn huyện Lục Ngạn và huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) thí điểm chỉ đạo xây dựng huyện điểm văn hóa miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc. Ngày 19/7/2002, Sở VHTT tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 72/QĐ-SVHTT về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện đề án “xây dựng và phát triển văn hóa huyện miền núi Lục Ngạn giai đoạn 2001 - 2010”. Bộ VHTT&DL, UBND tỉnh Bắc Giang, Sở VHTT&DL Bắc Giang và các ban ngành của tỉnh thường xuyên quan tâm chỉ đạo, tập trung đầu tư hỗ trợ huyện Lục Ngạn xây dựng huyện điểm văn hoá thông qua các chương trình, dự án cụ thể có hiệu quả. Sở VHTT&DL chỉ đạo huyện Lục Ngạn quan tâm hoàn thành các mục tiêu phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó tập trung vào việc xây dựng đời sống văn hoá phong phú, lành mạnh ở cơ sở và đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộcthiểu số trên địa bàn. Đồng thời, Sở VHTT&DL đã chỉ đạo các đơn vị của ngành xây dựng kế hoạch hỗ trợ giúp đỡ Lục Ngạn về chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, hỗ trợ kinh phí xây dựng các công trình văn hoá, trang thiết bị, sách báo, bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, tăng cường chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân cơ sở, nhất là vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đến nay, Lục Ngạn có 30/30 xã, thị trấn được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và THCS; 39 trường học được công nhận đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 62,96%; 62 trường học được kết nối mạng internet; 39 trường được trang bị máy chiếu phục vụ giảng dạy. Công tác khám chữa bệnh, cơ sở vật chất của các y tế xã, phòng khám đa khoa khu vực. Trung tâm y tế dự phòng được tăng cường; đạt tỷ lệ 3,72 bác sỹ/1 vạn dân; 26/30 trạm y tế có bác sỹ (01 trạm có 2 bác sỹ); có 16 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 6 xã phù hợp với trẻ em. Mạng lưới truyền thanh cơ sở được mở rộng đến 30/30 xã, thị trấn có trạm truyền thanh. Ngoài Đài phát thanh – Truyền hình, huyện đã xây dựng và đưa vào sử dụng 3 trạm phát lại tryền hình tại các xã vùng cao là Biển Động, Tân Sơn và Xa Lý phục vụ nhân dân.

Công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực hiện chính sách xã hội được quan tâm chỉ đạo, lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia. Các chương trình 134,135 của Chính phủ, các chính sách xã hội, phong trào đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ cải thiện nhà ở được triển khai thực hiện đạt nhiều kết qủa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống của nhân dân. Các câu lạc bộ thanh niên, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi được thành lập và duy trì hoạt động mang lại hiệu quả thiết thực.

Qua 8 năm thực hiện đề án, đời sống văn hoá trên địa bàn huyện đã có những thay đổi cơ bản. Đến nay toàn huyện có 218 nhà văn hoá, trong đó có 01 nhà văn hoá huyện, 11 nhà văn hoá xã, thị trấn, 206 nhà văn hoá thôn bản (03 nhà văn hoá của các dân tộc thiểu số). 30/30 xã, thị trấn có điểm bưu điện - văn hoá xã. Toàn huyện đã xây dựng được 16 cổng làng, 75 km đường bê tông, 222 đội nghệ thuật thường xuyên tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân. Điển hình của các phong trào trên là: thị trấn Chũ và các xã Quý Sơn, Hồng Giang, Nghĩa Hồ, Thanh Hải, Kiên Thành, Phượng Sơn, Tân Quang, Biên Sơn, Mỹ An, Tân Mộc…Tổng kết năm 2008, toàn huyện có 28.234/48.827 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá, 163/397 thôn, bản, 156 cơ quan, trường học đạt danh hiệu văn hoá cấp huyện, 44 làng, 40 cơ quan đạt danh hiệu cơ quan văn hoá cấp tỉnh, xã Quý Sơn 3 năm qua đạt danh hiệu xã văn hoá.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các hoạt động văn hoá thông tin ngày càng được quan tâm đầu tư hỗ trợ. Từ nguồn vốn do Bộ VHTTDL, UBND tỉnh, Sở VHTTDL cấp, huyện đã trang bị 01 xe ô tô chuyên dùng cho đội tuyên truyền cổ động, 1 bộ máy chiếu phim 35 ly, 1 bộ tăng âm cho đội tuyên truyền cổ động, xây dựng một nhà văn hoá dân tộc Cao Lan bản Đèo Gia (xã Đèo Gia), nhà văn hoá dân tộc Nùng bản Dọc Đình (xã Biên Sơn), nhà văn hoá dân tộc Sán Chí thông Cống (xã Kiên Lao), nhà văn hoá xã Quý Sơn, trang bị 48 bộ tăng âm cho 48 thôn bản trị giá khoảng 1,9 tỷ đồng. Thư viện huyện được đầu tư xây dựng với tổng kinh phí 1,8 tỷ đồng, trong đó Vụ Thư viện (Bộ VHTTDL) hỗ trợ 500 triệu đồng, còn lại là ngân sách huyện, đã khánh thành và đưa vào sử dụng từ tháng 9/2008. Mạng lưới thư viện cơ sở phát triển, 30/30 xã, thị trấn có tủ sách pháp luật., 25 cơ quan có tủ sách công đoàn, 06 thư viện xã, 07 tủ sách làng văn hoá, phục vụ nhu cầu đọc của cán bộ và nhân dân. Dự kiến kinh phí đầu tư xây dựng huyện điểm văn hoá là 15,82 tỷ đồng; đến nay đã đầu tư 28,006 tỷ đồng, vượt 12,186 tỷ đồng, chủ yếu là do nhân dân đóng góp và nguồn vốn của huyện.

Công tác bảo tồn di sản văn hoá đã được huyện quan tâm, thực hiện có hiệu quả. Toàn huyện có 33 di tích được xếp hạng, trong đó có 11 đền, 11 đình và 11 chùa. Trong những năm qua, có nhiều di tích được quan tâm đầu tư tu bổ, tôn tạo bằng nguồn ngân sách của nhà nước và huy động xã hội hoá với số tiền hàng chục tỷ đồng. Tiêu biểu là di tích đền Hả (xã Hồng Giang) và di tích đền Khánh Vân (thị trấn Chũ) mà các nhân vật được thờ đều là các tướng quân người dân tộc thiểu số có công đánh giặc bảo vệ đất nước, trong đó riêng đền Khánh Vân các tổ chức, cá nhân công đức để tu bổ, tôn tạo đã lên đến 2,7 tỷ đồng. Sở VHTTDL Bắc Giang đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tổ chức khai quật tại địa điểm thôn Cầu Từ, xã Phượng Sơn, phát hiện dấu vết kiến trúc, hiện vật, công trình dinh thự lớn thời Lý, có nhiều nét văn hoá tương đồng với di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Ngày hội Văn hoá - Thể thao các dân tộc của huyện và Ngày hội Văn hoá các dân tộc vùng cao huyện Lục Ngạn được duy trì từ nhiều năm nay, có thi hát dân ca, người đẹp mặc trang phục dân tộc, văn hoá ẩm thực, các môn thể thao dân tộc và các trò chơi dân gian độc đáo. Nhiều cơ sở thường xuyên tổ chức được hội hát dân ca, như hội hát dân tộc Nùng xã Kim Sơn, hội hát dân tộc Cao Lan xã Đèo Gia, hội hát dân tộc Sán Chí xã Kiên Lao, góp phần bảo tồn có hiệu quả bản sắc văn hoá của các dân tộc trên địa bàn, đặc biệt là của các dân tộc thiểu số. Sở VHTTDL đac chỉ đạo và tổ chức điều tra, nghiên cứu văn hoá phi vật thể huyện Lục Ngạn, và xuất bản các cuốn sách “Dân ca Sán Chí, xã Kiên Lao- huyện Lục Ngạn”, “Phong tục dân tộc Sán Dìu”, “Văn hoá phi vật thể huyện Lục Ngạn”…để tuyên truyền phổ biến rộng rãi.

   Phong trào “toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục phát triển sâu rộng. Công tác xã hội hoá hoạt động thể dục thể thao được cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đồng tình ủng hộ. Đến nay, toàn huyện có 15 sân vận động xã, thị trấn; 75 sân bóng đá; 11 nhà thi đấu thể thao, thường xuyên duy trì hoạt động của 90 CLB thể thao, trong đó có 54 CLB dưỡng sinh của người trung, cao tuổi, 7 CLB bóng chuyền, 17% dân số thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, 70% thôn bản có từ 1 thiết chế văn hoá thông tin hoặc thể thao trở lên. Có 30/30 xã, thị trấn quy hoạch đất cho xây dựng trung tâm văn hoá thể thao, sân vận động xã, liên thôn…với tổng diện tích 78,22 ha.

   Sau 8 năm triển khai xây dựng huyện điểm văn hoá miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, theo sự chỉ đạo của Bộ VHTTDL, UBND tỉnh và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang, nhờ quyết tâm phấn đấu thực hiện của Đảng bộ, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể và nhân dân các dân tộc trong huyện, nhiều mục tiêu của đề án đã được thực hiện có kết quả. Qua đây cho thấy chủ trương xây dựng huyện điểm văn hoá là hoàn toàn có cơ sở thực tiễn, đã thực sự đi vào cuộc sống.

Qua 8 năm chỉ đạo xây dựng huyện điểm văn hoá Lục Ngạn đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

1. Phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở; cụ thể hoá các mục tiêu của đề án thành chương trình kế hoạch phù hợp với địa phương để thực hiện.

2. Xây dựng huyện điểm văn hoá phải huy động sức mạnh tổng hợp của Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể và nhân dân các dân tộc trong huyện, cùng chung sức phấn đấu để đạt được các mục tiêu đã đề ra trong đề án, quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, coi trọng phát triển văn hoá, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số.

3. Quan tâm kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá- thông tin, đặc biệt là đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ văn hoá cơ sở có đủ năng lực để tổ chức thực hiện các mục tiêu của đề án cơ sở.

4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện ở cơ sở. Coi trọng việc chỉ đạo nâng cao chất lượng gia đình văn hoá, làng văn hoá, xã văn hoá, cơ quan văn hoá. Việc đạt các danh hiệu văn hoá cũng là tiêu chí để bình xét, xếp loại cán bộ, đảng viên, chi bộ, đảng bộ, chính quyền cơ sở hàng năm, gắn với công tác thi đua, khen thưởng kịp thời.

5. Có biện pháp khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất và xây dựng các thiết chế văn hoá, thôn, bản. Thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá văn hoá, thể thao, huy động có hiệu quả nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình văn hoá, thể thao, tu bổ di tích, bảo tồn các lễ hội truyền thống và tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao ở cơ sở.

6. Đồng thời với phát huy nội lực, phải tranh thủ được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư kinh phí của cấp trên, nhất là sự đầu tư của Bộ VHTTDL, các ban ngành Trung ương và UBND tỉnh. Có biện pháp lồng ghép với các chương trình, dự án đầu tư cho địa phương trong thực hiện các mục tiêu của đề án.

Quang Vũ

 

 

;?>