• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5245370
  • Số người đang xem: 10
  • Trong ngày: 260
  • Trong tuần: 16036
  • Trong tháng: 1413127
  • Trong năm: 4893147
Trang chủ

Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh

( 11:47 | 03/09/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Trong lịch sử gần một ngàn năm của chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam (1075 - 1919), Lê Văn Thịnh đứng ở vị trí đặc biệt: ông đỗ Trạng nguyên khai khoa trong kỳ thi Minh kinh bác học năm Ất Mão (1075), niên hiệu Thái Ninh thứ 4 đời vua Lý Nhân Tông, là thời kỳ hùng mạnh về kinh tế và quân sự của nhà nước Đại Việt.

Theo sử sách để lại thì  Lê văn Thịnh sinh khoảng năm 1038 quê ở xã Chi Nhị, tổng Đại Lải, huyện Gia Bình (nay là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Trạng nguyên Lê Văn Thịnh không chỉ là niềm tự hào của lộ Bắc Giang(*) xưa mà còn là tấm gương sáng trong văn hoá nước nhà. Ông là người có lòng tự tôn dân tộc rất cao nên cả đời làm quan chỉ muốn sáng tỏ cái đạo của người Đại Việt "trên thuận với trời, dưới thuận với đất, con người cung kính yêu thương nhau như anh em, ấy là cái đạo của Đại Việt". Vốn là người có tài, biết trọng nguyên khí quốc gia nên chỉ sau 10 năm ông đã lập công lớn và trở thành Thái sư đầu triều. Lịch sử ghi công lao của ông trong việc đấu tranh với sứ thần phương Bắc để đòi lại châu Quảng Uyên, mảnh đất quí, nhiều tài nguyên cho tổ quốc. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Giáp Tý (1084), mùa hạ, tháng 6 sai Thị lang bộ Binh Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng với người Tống bàn việc cương giới".

Trở lại cuộc kháng chiến chống Tống oai hùng của dân tộc. Sau trận quyết chiến chiến lược lừng danh trên phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077 của quân dân Đại Việt chặn đứng âm mưu xâm lược của nhà Tống. Bị đại bại, cuối cùng để bảo vệ mạng sống, tướng giặc Quách Quỳ phải ra lệnh lui quân lên biên giới phía và chiếm châu Quảng Uyên để lẩn trốn. Trên tinh thần hoà hiếu, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy nhân nghĩa để thay cường bạo, mùa xuân 1078, vua Lý Nhân Tông sai Đào Tông Nguyên đi sứ sang Trung Quốc, đem theo 5 con voi thuần chủng biếu vua quan nhà Tống để giảng hoà và  xin họ trả lại phần đất mà họ lấn chiếm. Năm 1079, nhà Tống trả lại đất ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn nhưng nhất định không chịu trả. Vì thế, tháng 6 năm 1084, sau 5 năm giằng co, Lê Văn Thịnh với cương vị là Thị lang bộ Binh đến trại Vĩnh Bình cùng vua quan nhà Tống bàn việc cương giới. Trước sự việc trên, với sự thông tuệ và sự lịch lãm, Lê Văn Thịnh đã trả lời sứ giả nhà Tống là Thành Trạc: "Đã là đất thì phải có chủ, các viên quan được triều đình nhà Lý giao cho giữ đất để bảo vệ biên thuỳ mà lại đem nộp cho nhà Tống mà lại trốn đi thì đất ấy đích thực là vật ăn trộm. Việc này luật pháp Đại Việt không những không cho phép mà còn làm dơ bẩn sổ sách của vua quan nhà Tống nữa vì đã nhập nhầm phần đất do thổ dân ăn trộm"

Cuối cùng, trước lý lẽ sắc bén và cách trả lời cứng cỏi của Lê Văn Thịnh khiến sứ giả nhà Tống cứng họng. Điều hiển nhiên vì pháp luật đã qui định: tất cả các quan viên, khi nhận một phần lãnh thổ để canh giữ, nếu đem bán hoặc huỷ bỏ đều có tội. Ở trường hợp cụ thể này các thổ quan được nhà Lý tin dùng, đời đời ăn lộc nhà nước đã không giữ được sự tin cẩn của triều đình, tự tiện đem đất của tổ tiên dâng cho nhà Tống để xin thuần phục là xâm phạm vào lãnh thổ của Đại Việt. Còn việc nhà Tống tự tiện chiếm giữ đất ấy là bất hợp pháp, không minh bạch, không đáng giữ, không xứng đáng với sự hoà hiếu của hai nước!

Về sự kiện định biên giới này, sử có ghi: "Nhà Tống trả cho ta 6 huyện 3 động. Người Tống có thơ rằng:

"Nhân tham Giao chỉ tượng

 Khước thất Quảng Nguyên kim"

 (Vì tham voi Giao Chỉ

 Bỏ mất vàng Quảng Uyên).

Cuộc đời làm quan của ông đang hanh thông thì phải đi đầu ở Thao Giang gặp một bi kịch lớn: bị vu tội giết vua, bị tù tội, dẫn đến. Đó là vào năm 1096, một buổi kia, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh cùng đoàn tuỳ tùng đưa vua Lý Nhân Tông dạo thuyền trên hồ Dâm Đàm tức Hồ Tây – Hà Nội. Bỗng trời tối vì mây mù dày đặc. Rồi câu chuyện người đánh cá Mục Thận quăng lưới bắt hổ, mà "con hổ" lại là Thái sư đầu triều, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, được dựng lên! "Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công, không nỡ giết, đầy lên trại Thao Giang. Trước đấy, Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật lạ, cho nên mượn chuyện ấy toan làm chuyện thí nghịch" (ĐVSKTT, trang 297).

Vậy Lê Văn Thịnh có phải là người giết vua? Như mọi người đều biết, thời đại Lý Nhân Tông mà Trạng nguyên Lê Văn Thịnh phò tá là một thời đại hùng mạnh, giàu đủ như lịch sử đã ghi. Một vị Thái sư đầu triều, một chức quan tột đỉnh của quyền lực, một bộ óc thông tuệ không thể mượn phép thuật để mưu phản "giết vua". Trước, sau trong sử không hề ghi ông có thù oán, xung khắc gì với triều đình, với vua và Hoàng Thái hậu, sử không hề ghi ông có phe nhóm, bè đảng và âm mưu gì. Hơn 900 năm qua, sự kiện ở hồ Dâm Đàm vẫn là một nghi án? Ở dưới suối vàng Lê Văn Thịnh vẫn ngậm một nỗi đau ngàn năm!

May thay, gần 900 năm sau hậu thế đã đứng ra minh oan cho ông. Đó là ngày 09 tháng 10 năm 1993, tức ngày 24 tháng 8 năm Quý Dậu, một ngày mùa thu,được phép của UBND tỉnh Hà Bắc, Sở Văn hoá thông tin và Thể thao, phối hợp với UBND huyện Gia Lương và UBND xã Đông Cứu tổ chức Hội thảo khoa học đánh giá lại sự kiện lịch sử năm 1096 trên hồ Dâm Đàm. Tham gia Hội thảo gồm các nhà khoa học xã hội đầu ngành ở Trung ương và địa phương. Các tham luận tại hội thảo đều khẳng định: Lê Văn Thịnh không phạm tội giết vua. Nỗi hàm oan của ông đã được cởi bỏ. Việc ông đại diện cho tư tưởng cấp tiến của Nho giáo tam trường và những cải cách tiến bộ của ông về kinh tế và xã hội như một ngáng trở đối với quyền lợi của tầng lớp tăng lữ, đạo Phật đầy thế lực ở triều đình và câu chuyện thoán nghịch “là do họ dựng lên để hãm hại ông”.

Trần Hoành

 

;?>