• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5041800
  • Số người đang xem: 47
  • Trong ngày: 935
  • Trong tuần: 28479
  • Trong tháng: 1209557
  • Trong năm: 4689577
Trang chủ

Ca trù Bắc Giang – Sau 4 năm là di sản phi vật thể được bảo vệ khẩn cấp

( 08:55 | 25/01/2014 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Ca trù ở Bắc Giang- những dấu ấn còn lại…

Những tư liệu sớm nhất cho biết về Ca trù có mặt tại Bắc Giang được xuất hiện tại các làng xã ven sông Cầu, huyện Hiệp Hoà, bao gồm tài liệu mỹ thuật điêu khắc và văn bia, tất cả vẫn còn hiện hữu.

Ngôi đình vẫn còn đó. Bia đá vẫn còn đây. Trước hết đó là bức chạm gỗ ở đình Lỗ Hạnh (còn gọi là đình Đông Lỗ), thuộc xã Đông Lỗ, một trong những ngôi đình có niên đại sớm nhất cả nước, ngôi đình được mệnh danh "đệ nhất Kinh Bắc" được xây dựng vào năm Bính Tý, niên hiệu Sùng Khang (1576) thời Lê Mạc, thế kỷ 16. Bức chạm về một tiên nữ ngồi trên mình con hươu và đang gảy đàn đáy. Chiếc đàn đáy là loại đàn độc nhất dành cho nghệ thuật Ca trù, còn con hươu là con vật gắn với các vị tiên nên là biểu hiện về vẻ đẹp của âm nhạc Ca trù. Ở một bức chạm khác, chạm cảnh hoà nhạc vui vẻ trong đó có hình ảnh người đàn ông đang chơi đàn đáy. Có thể nói, việc đưa hình tượng cô gái - tiên nữ - chơi đàn đáy vào nơi đình trung cho thấy nghệ thuật Ca trù đã trở thành thú chơi sang trọng trong sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng bản địa. Cũng tại Hiệp Hoà, theo tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện trong sách "Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù" (NXB KHXH, Hà Nội năm 2000) có nêu "Tại đình Trung Việt (Trung Trật?) huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang có tấm bia đá Bản huyện giáo phường lập bi. Thác bản bia mang số hiệu 9000 - 9001, thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho biết: Năm dựng bia: Vĩnh Trị 5 (1681). Bia có chữ trên 2 mặt, khổ 79 x 55cm, 38 dòng, mỗi dòng 30 chữ. Nội dung văn bia ghi việc một số vị trong giáo phường xã Đông Lâm, huyện HIệp Hoà, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc, vì có ngoại tổ họ Hà là Phúc Đạo, ở xã Trung Trật trước có mở nghiệp giáo phường, sinh con gái là Hà Thị Khánh lấy chồng họ Nguyễn ở Đông Lâm và tạo nên giáo phường ở đây. Nay các vị trong giáo phường xã Đông Lâm nhớ đến ân nghĩa sinh thành của ngoại tổ, tỏ lòng báo đáp, đặt ra lệ, hễ đình Trung Trật có mở tiệc thì các khoản tiền tiệc, tiền khao và tiền lễ xông đình, các khoản tiền làm cỗ, thảy đều do giáo phường Đông Lâm trang trải…". Dọc theo sông Cầu, tại đình Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, trong tấm bia đá đặt gần hương án đình làng, dựng ngày 5 tháng 10 niên hiệu Chính Hoà thứ 14 (1693) có ghi việc đổi lệ hát Ca trù, cho hay "Quan viên hương lão, xã thôn trưởng, binh dân các hạng xã Thổ Hà, huyện Việt Yên, phủ Bắc Hà cùng toàn thể dân xã từ già đến trẻ"…"Trước đây dân xã vào đám cầu phúc hát xướng cả thảy 36 trù", "Đến nay lập lại khoán ước đổi lệ cũ làm 16 trù". Cần nói thêm, Thổ Hà trước đây còn có nhà thờ tổ nghề Ca trù. Trong khám thờ đặt 3 pho tượng, tượng người ngồi giữa là phụ nữ, 2 bên là 2 đồng tử, dân gian cho rằng người phụ nữ đó là ca nương, là tổ của nghề Ca trù. Trải qua nhiều trăm năm, cho đến những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong nhiều hương ước, tục lệ làng xã ở nhiều nơi trong tỉnh còn nêu tới việc tổ chức hát Ca trù. Dân gian còn nhắc đến "Quế Nham nổi tiếng bừa Rào/Tiền Đình nổi tiếng ả đào hát hay". Tiền Đình thuộc xã Quế Nham huyện Tân Yên, cách lỵ sở Phủ Lạng Thương trước đây (thành phố Bắc Giang ngày nay) vài ba cây số đường chim bay, khu vực  phố Mỹ Độ, phía nam cầu sông Thương là nơi có các nhà hát cô đầu (Ca trù) có tiếng trong tỉnh. Rồi ngược lên vùng Thái Đào, Lạng Giang, ngang sang vùng Neo, Yên Dũng, xuống Quang Châu, Việt Yên… Có thể nói, những dấu ấn Ca trù trên đất Bắc Giang cho thấy một vùng đất "ghi danh" cho loại hình ca hát độc đáo, đặc sắc có một không hai, có lịch sử dài lâu cách nay 5 thế kỷ.

Ca trù Bắc Giang hôm nay lại rộn ràng “ sênh phách”

Việc UNESCO ghi danh Ca trù vào danh sách Di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp đã nêu rõ "Yêu cầu quốc gia thành viên có các nguồn lực để hoạt động và phát huy Ca trù trong giới trẻ, khuyến khích các ca nương, kép đàn và các tổ chức hiện hành tìm kiếm các học trò tài năng nhằm đảm bảo sự tiếp tục tồn tại của nghệ thuật Ca trù"…. Trong Đề án Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá các dân tộc tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011- 2020, theo Quyết định số 57/QĐ-UBND ngày 04/6/2010 của UBND tỉnh Bắc Giang đã nêu 5 nội dung về bảo tồn, phát huy di sản Ca trù, trong đó chú trọng: Tổng điều tra di sản văn hoá Ca trù trên địa bàn toàn tỉnh. Phân loại, hệ thống hoá các tư liệu, hiện vật liên quan đến Ca trù, tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu về Ca trù. Xây dựng điểm câu lạc bộ Ca trù tại 6 huyện, thành phố, sau đó tiếp tục thành lập các câu lạc bộ Ca trù ở những huyện còn lại… Ngay trong năm 2009, Câu lạc bộ (CLB) Ca trù đầu tiên được thành lập tại Nhà hát Chèo Bắc Giang với 8 thành viên là các diễn viên, nhạc công Quỳnh Mai, Thanh Hường, Mai Lan, Mai Trang, Đắc Huấn, Ngọc Tú, do NSƯT Trần Thông- Giám đốc Nhà hát làm Chủ nhiệm, NSƯT Thanh Hải- Phó Giám đốc Nhà hát làm Phó Chủ nhiệm. CLB đã được các giảng viên- nghệ nhân trẻ của CLB Ca trù Lỗ Khê, Đông Anh (Hà Nội) về truyền dạy. Thật đáng mừng trong Liên hoan Ca trù toàn quốc tổ chức tại Hà Nội tháng 10/2009, CLB Ca trù Nhà hát chèo Bắc Giang đã giành thành tích xuất sắc: Toàn đoàn được tặng bằng khen, kép đàn Ngọc Tú được tặng giấy khen, đặc biệt 2 ca nương tham gia Liên hoan đều đạt huy chương, trong đó ca nương Nguyễn Thị Mai Trang đoạt Huy chương vàng, ca nương Phạm Quỳnh Mai đoạt Huy chương bạc. Vẫn biết Ca trù không phải loại hình văn nghệ quần chúng cần phổ cập mà là loại hình nghệ thuật đậm chất sang trọng, kén người, kén giọng, giỏi văn chương, có phong cách đặc biệt nhưng cũng như những loại hình nghệ thuật khác, Ca trù cũng không phải của riêng ai. Những khuyến nghị của UNESCO cùng nội dung Đề án bảo tồn, phát huy di sản Ca trù đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm. Trong năm 2011, Yên Dũng đã thành lập CLB Ca trù của huyện, với 18 thành viên, trong đó có 12 nữ và 6 nam, nòng cốt  các "ca nương" là các nữ giáo viên văn học hiện đang sinh hoạt tại thị trấn Neo, kép đàn là nhạc công của ngành văn hoá huyện, roi chầu là nghệ nhân trống chầu có hạng trong vùng. Ban chủ nhệm CLB do bà Đặng Thị Chấn làm Chủ nhiệm, bà Nguyễn Thị Thu Hương và ông Lưu Văn Lãng làm Phó chủ nhiệm và 2 uỷ viên. CLB đã cử người về theo lớp truyền dạy của CLB Thái Hà, Hà Nội, tham gia các lớp truyền dạy Ca trù do Trung tâm Văn hoá tỉnh, Nhà hát Chèo Bắc Giang mời nghệ nhân về dạy, cùng việc tìm hiểu qua sách vở, băng hình, đĩa CD, VCD về Ca trù đồng thời mở rộng giao lưu cùng các CLB trong tỉnh. Đến nay các thành viên CLB đã biểu diễn tốt khoảng trên dưới 20 tiết mục Ca trù, ở nhiều giọng khác nhau như hát nói, hát giai, gửi thư, đọc thơ, xẩm huê tình… Nhiều ca nương như Ong Thị Bích, Ong Thị Hoài, Ong Thị Thơm, Nguyễn Thị Thu Hương, ... đã thể hiện được nhiều tác phẩm. Nghệ nhân trống chầu Đào Ngọc Lân thật sành nghe đàn, hát nên roi chầu ngắt mạch câu văn, khổ phách, khen câu thơ hay thật đúng, thật tài tình. Những năm qua, CLB đã tham gia Hội diễn NTQC huyện Yên Dũng và Liên hoan Ca Múa Nhạc tại Ngày hội VHTT&DL các dân tộc tỉnh Bắc Giang đạt giải cao. Đặc biệt, tại "quê hương ca trù" Đông Lỗ năm 2010- 2011 đã thành lập 4 CLB Ca trù của 4 thôn là: Khoát, Chằm, Chúng và thôn Hưng Đạo, trong đó CLB thôn Khoát có 13 hội viên (9 nữ, 4 nam) độ tuổi trung niên, do ca nương Nguyễn Thị Sen 48 tuổi làm Chủ nhiệm. CLB thôn Chằm có 8 hội viên (5 nữ, 3 nam) do ca nương Nguyễn Thị Công làm Chủ nhiệm. CLB thôn Chúng có 9 hội viên (5 nữ, 4 nam) do ca nương Phan Thị Huệ làm Chủ nhiệm. CLB thôn Hưng Đạo có 8 hội viên (6 nữ, 3 nam) do anh Phạm Văn Hiệp làm Chủ nhiệm. Như vậy, các CLB Ca trù ở Đông Lỗ đã có 38 hội viên. Thời gian qua, cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ về chuyên môn và kinh phí của các cấp và của địa phương, Đông Lỗ đã trang bị đầy đủ các bộ nhạc cụ phục vụ cho sinh hoạt văn nghệ, mời các nghệ nhân CLB Ca trù Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh về truyền dạy, đồng thời cử người tham gia các lớp tập huấn do tỉnh mời các nghệ nhân các CLB Ca trù ở Hà Nội về truyền dạy. Trong buổi tổng kết lớp Ca trù do xã tổ chức, nghệ nhân "gạo cội" đàn đáy đất Thanh Khương Nguyễn Trọng Lộ chia sẻ với chúng tôi rằng: Dường như đất và nước vùng Đông Lỗ tạo nên chất giọng ca trù, cũng như rượu làng Vân là của đất và nước làng Vân vậy, dường như các hội viên CLB ở đây đến với ca trù như đến với chính tâm hồn mình. Chính vì thế, thấy thật mừng các ca nương "chân lấm tay bùn" nơi đây, phải tranh thủ đi làm đồng vào sáng sớm, giữa trưa để giành thời gian cho học ca trù mà giọng hát thêm tròn vành rõ chữ, nhả chữ, buông chữ, duyên phách thật hài hoà. Nhằm đẩy mạnh thực hiện Đề án về bảo tồn và phát huy di sản văn hoá tỉnh Bắc Giang, ngày 14/10/2011, Trung tâm Văn hoá tỉnh đã ra quyết định thành lập CLB Ca trù Sông Thương trực thuộc Trung tâm, gồm 40 thành viên trên cơ sở tuyển chọn các diễn viên, nhạc công trẻ, giỏi chuyên môn nghiệp vụ của Trung tâm Văn hoá tỉnh và Trung tâm VHTT các huyện, thành phố đã từng tham gia các lớp truyền dạy về ca trù, do Giám đốc Trung tâm Văn hoá tỉnh làm Chủ nhiệm, để từng bước xây dựng CLB trở thành CLB mẫu trong hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ đối với các CLB Ca trù cơ sở. Năm 2012, CLB ca trù thôn Hoàng Mai, xã Hoàng Ninh được thành lập, dưới sự giúp đỡ của CLB ca trù Nhà hát Chèo Bắc Giang… Như vậy, cho đến nay, tỉnh ta đã có 08 CLB ca trù. Hiện một số huyện Lục Nam, Hiệp Hòa, Sơn Động, Tân Yên và thành phố Bắc Giang đều có kế hoạch thành lập CLB ca trù của huyện, thành phố từ số các ca nương, kép đàn được đi tập huấn và có kết quả, triển vọng tốt. Đã không còn là xa lạ tại hầu hết các Hội diễn, Liên hoan nghệ thuật của các huyện, thành phố và một số ngành trong tỉnh lại xuất hiện những tiết mục ca trù và thường đạt giải cao. Một số “chiếu” ca trù, với những ca nương, kép đàn đã để lại những ấn tượng tốt đẹp. Âm vang “sênh phách” ca trù đã rộn ràng chốn hội quê. Theo kế hoạch, trong năm 2014, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh sẽ tổ chức Hội thi Tiếng hát Quan họ lần thứ III và Liên hoan Ca trù tỉnh Bắc Giang lần thứ I, nhằm ghi nhận, đánh giá đúng những nỗ lực trong quá trình bảo tồn và phát huy 2 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trên quê hương, thực hiện  tốt cam kết  với UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa.

Cần khẳng định, ca trù Bắc Giang đã và đang  lan toả với sức sống mới./.

Trần Thái

 

;?>