• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3581585
  • Số người đang xem: 24
  • Trong ngày: 4678
  • Trong tuần: 28762
  • Trong tháng: 286069
  • Trong năm: 3229362
Trang chủ

Lễ hội Phồn Xương thời kỳ Hoàng Hoa Thám hoạt động ở vùng Yên Thế

( 08:27 | 10/03/2014 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) là phong trào khởi nghĩa nông dân lớn nhất, dài nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là trang sử hào hùng chống thực dân Pháp mà khi nói tới không ai là người Việt Nam quên được. Mặc dù diễn ra cách ngày nay hơn một thế kỷ, song khởi nghĩa Yên Thế với hình ảnh của những người anh hùng dân tộc áo vải Hoàng Hoa Thám, Lương Văn Nắm, cùng các chàng trai Cầu Vồng –nghĩa quân Yên Thế vẫn còn in đậm trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Họ là những tấm gương yêu nước sáng ngời, sự hiến dâng cho nền độc lập tự do của đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Ngày nay, nhiều người biết đến lễ hội Yên Thế, nhưng không phải ai cũng biết lễ hội Phồn Xương đã được thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám tạo dựng ngay từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa.

Hoàng Hoa Thám tổ chức mở hội lần đầu vào năm 1900. Cũng từ đây, ngày hội này đã trở thành lệ chung của dân làng: "Đầu năm làm hội, cuối năm làm chay". Một kỳ hội thường được làm trong 5 ngày: Từ mồng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch, nhưng chính hội chỉ có 3 ngày 12, 13, 14. Năm nào được mùa, nghĩa quân giành được những thắng lợi quyết định thì năm ấy hội sẽ mở to. Ngược lại năm nào mất mùa, nghĩa quân ở thế thất thủ thì hội mở nhỏ hơn.

Trong ngày hội, sân đình được trang hoàng lộng lẫy. Hai mươi lá cờ ngũ sắc cắm ở bốn xung quanh. Những thanh gươm sáng loáng xếp thành hai hàng dọc theo lối vào hậu cung. Lá cờ đại lệnh uy nghiêm được đặt ở chính giữa. Hoàng Hoa Thám còn cho đặt súng ống và cử quân lính canh gác các nơi, đề phòng giặc lên đánh.

Hội mở, nhân dân các vùng lân cận đều mang cỗ đến thi và thi cỗ chính là nội dung chủ yếu của ngày hội đầu năm. Cỗ thi trong hội thường chỉ có: Một đĩa bánh chưng; một đĩa bánh gio; hai nắm cơm nhỏ; một đĩa sau diếp cuốn thịt và một đĩa chè lam. Sáng ngày 12, Hoàng Hoa Thám cùng với bà Ba và một số người thân cận của ông đến chấm thi. Cỗ thi trong hội được xếp theo hàng lối. Trên mỗi mâm đều được phủ một miếng vải đỏ. Những người đến chấm thi sẽ đi lần lượt từ trên xuống theo thứ tự sắp xếp. Mâm cỗ nào đạt sẽ được cắm thẻ và sau đó thì trao giải thưởng ngay. Người nào đoạt được giải thưởng trong hội sẽ coi đó là niềm vinh hạnh lớn, tất cả bạn bè biết tin đều đến chúc mừng.

Nếu như thi cỗ để rèn luyện kỹ năng lao động của người phụ nữ là chủ yếu thì vật là một trò vui, một môn thể thao cổ truyền mang nhiều đặc điểm, phong cách riêng của các đám trai làng, do vậy, đấu vật cũng là một trò chơi được nhiều người quan tâm tới. Đặc biệt, trong hội còn có môn thi bắn súng, bắn cung nỏ. Môn thi này được Hoàng Hoa Thám quan tâm nhiều nhất vì có lẽ đây không phải đơn thuần là một trò chơi mà đúng hơn, đây là kỳ khảo hạch trong quân lính của ông và là cơ hội, hay cái cớ để ông tuyển chọn nhân tài vào các chức vụ cầm quân quan trọng. Ngoài ra, trong hội còn có nhiều trò chơi khác như cờ tướng, bơi thi bắt vịt, múa rối nước...

Buổi tối, Hoàng Hoa Thám cho mời các đoàn tuồng về biểu diễn. Tuồng Thổ Hà và tuồng Đồng Kỵ là những đội hay được mời nhiều nhất. Đến hội biểu diễn, họ được tiếp đón trọng thể. Khi về, lại được thêm tiền làm quỹ.

Việc tế lễ trên đình, trong đền, chùa cũng là nội dung quan trọng của hội do Hoàng Hoa Thám trực tiếp đảm nhiệm. Cỗ tế ngoài hương, hoa, oản, quả thì mỗi ngày còn có hai con lợn quay. Lợn tế được nuôi rất công phu. Đến ngày hội người ta đem thịt, làm sạch lông, bỏ lòng gan, đem nguyên cả con quay vàng rồi mang lên đình đặt phủ phục trên một tấm lá chuối, chầu đầu vào hậu cung. Để làm việc này, cỗ tế thường do người nhà Hoàng Hoa Thám chuẩn bị. Suốt trong dịp hội, mỗi ngày đều có hai tuần tế, sáng 7- 8 giờ, chiều 4- 5 giờ. Nhân dân các vùng lân cận đến xem hội đều được ăn cỗ là những mâm cỗ thi và bao giờ Hoàng Hoa Thám cũng cho nấu thêm cơm, để vào mỗi mâm hai nắm. Thức ăn để đãi khách đến hội thường là thịt trâu.

Giữa năm, Hoàng Hoa Thám còn cho làm chay vào ngày Rằm tháng Bảy để tưởng nhớ vong linh những nghĩa quân đã hi sinh trong trận mạc. Ngày này, Hoàng Hoa Thám cho người đi mời các vị sư ở chùa Bổ về. Sau khi đã cúng tế bằng hương hoa oản quả ở chùa Phồn Xương thì bắt đầu vào nội dung chủ yếu của ngày làm chay là rước. Trong đám rước, sau cờ lệnh, cờ ngũ sắc là súng: "Súng đi trước, súng đi sau”, rồi kiệu, hương án. Trên kiệu để bát hương bài vị và một số hình nhân sơn đỏ. Trên hương án để hương, hoa, oản, quả và phủ vải đỏ. Người khiêng kiệu, khiêng án là những trai tân, mặc áo nhiễu đỏ, quần trắng, đội khăn đỏ. Phường nhạc gồm đủ loại đi trong đám rước phục vụ. Nhà sư ngồi trên ngựa, một người phụ việc của Đề Thám cầm dây cương và dắt ngựa đi, có hai người cầm lọng đi hai bên ngựa che cho nhà sư. Trong đám rước còn mang theo một lồng chim gồm các loài chim, một chậu cá gồm đủ thứ cá, một bè chuối một trăm cây và một trăm ngọn nến để cắm trên bè chuối đó. Sau đám rước là các cụ bô lão tay cầm hương, đọc kinh niệm Phật.

Đám rước được khởi hành từ miếu Âm hồn trong đồn Phồn Xương ra đình rồi đi tới cống Cầu Gồ. Sau khi các vị sư đã tụng kinh và làm một số nghi thức nhà Phật, Hoàng Hoa Thám cho thả bè chuối xuống sông, đốt đủ một trăm ngọn nến để lên trên, rồi thả chim lên trời, thả cá xuống nước cho chúng tự do bay nhảy. Làm xong tất cả công việc đó thì đoàn người đi rước lại quay về chùa tụng kinh niệm Phật, giải oan cho các âm hồn…

Như vậy, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn gian khổ, lại phải chiến đấu quyết liệt với kẻ thù xâm lược, Hoàng Hoa Thám vẫn không quên lo lắng đến đời sống tinh thần của người dân. Ông đã cho xây dựng, tu bổ nhiều công trình văn hóa, tín ngưỡng như chùa Lèo, đền Thác Thần, đền Gốc Chanh, đền Giải Oan…. Ông còn tổ chức mở hội cho dân vui và ông đã thu phục được lòng dân. Với việc phóng đăng, phóng ngư, phóng điểu trong ngày hội, Hoàng Hoa Thám muốn nói lên lòng khát khao yêu chuộng hòa bình của mình. Yêu dân, thương dân, chăm lo đến đời sống tinh thần của người dân trong vùng, Hoàng Hoa Thám đã dùng ngọn cờ văn hóa để tập hợp mọi tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cứu nước của dân tộc. Thế mới biết, không chỉ tài năng về quân sự, Hoàng Hoa Thám còn là một nhà văn hóa tài giỏi và trên hết, đó là một con người giầu lòng yêu nước, có chí căm thù giặc sâu sắc, được nhân dân kính phục, tin yêu và bảo vệ trong mọi tình huống. Với lẽ đó, cuộc khởi nghĩa Yên Thế luôn sống mãi trong lòng dân tộc và bè bạn khắp năm châu./.

Nguyễn Thu Minh

 

 

;?>