• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3572414
  • Số người đang xem: 21
  • Trong ngày: 1494
  • Trong tuần: 19591
  • Trong tháng: 276898
  • Trong năm: 3220191
Trang chủ

Ẩm thực trong lễ hội Phồn Xương - Yên Thế

( 08:29 | 10/03/2014 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Trong tiết trời dịu mát, ấm áp của mùa xuân, hoà chung với không khí náo nức của người dân Bắc Giang mỗi khi làng quê mở hội, người dân vùng Yên Thế cũng chuẩn bị lễ hội kỷ niệm cuộc khởi nghĩa do người thủ lĩnh áo nâu Hoàng Hoa Thám lãnh đạo

Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) với hình ảnh của người anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám, Lương Văn Nắm và các chàng trai Cầu Vồng Yên Thế vẫn còn in đậm trong lòng mỗi người dân Việt Nam về tấm gương yêu nước sáng ngời, trọn đời hiến dâng cho nền độc lập tự do của đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa kéo dài gần 30 năm với nhiều giai đoạn, nhiều cung bậc thăng trầm, đã có hai lần thực dân Pháp phải xuống nước hoà hoãn với nghĩa quân: Lần thứ nhất (1894- 11/1895), lần thứ hai (1897-1909).

Trong lần hoà hoãn thứ hai với thực dân Pháp, Hoàng Hoa Thám, người thủ lĩnh tài ba, linh hồn của cuộc khởi nghĩa đã không ngừng xây dựng đồn luỹ phòng thủ, tích trữ lương thực, rèn luyện nghĩa quân… Đề Thám cũng rất quan tâm đến đời sống văn hoá tinh thần của binh sĩ cũng như nhân dân trong vùng. Ngoài việc cho xây dựng các công trình tín ngưỡng tôn giáo như đình, chùa…; hàng năm ông còn cho tổ chức các lễ hội như hội cầu may vào dịp đầu xuân, hội cầu siêu vào dịp rằm tháng 7. Hoàng Hoa Thám tổ chức mở hội đầu tiên vào năm 1900. Cũng từ đây, ngày hội này đã trở thành lệ chung của dân làng: “Đầu năm làm hội, cuối năm làm chay”.

Hội cầu may hàng năm thường mở ở Phồn Xương từ ngày mồng 10 đến tết Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng) mới giã hội. Năm nào được mùa, nghĩa quân giành được những thắng lợi quyết định thì năm ấy sẽ mở hội to. Ngược lại năm nào mất mùa, nghĩa quân ở thế thất thủ thì mở hội nhỏ hơn với tính chất như việc làng. Dịp này Đề Thám thường cho mời các thân nhân nghĩa quân đã hy sinh đến để gặp mặt, hỏi han, biếu quà. Vào ngày hội trong chùa Phồn Xương (đền Thề) có kể hạnh và lễ Phật, ngoài đồi bãi có các trò vui chơi thi bắn cung, bắn súng, săn thú, đua ngựa, vật, đánh cờ…Đặc sắc nhất là thi cỗ chay, làm các loại bánh, cơm nắm.

Đến ngày mở hội, nhân dân các vùng lân cận đều mang cỗ đến thi và thi cỗ chính là nội dung chủ yếu của ngày hội đầu năm. Cỗ thi trong hội thường chỉ có: Bánh chưng, một đĩa bánh gio, hai nắm cơm nhỏ, một đĩa rau diếp cuốn thịt, một đĩa bánh chè lam.

Như vậy, cỗ thi rất đơn giản, thanh tao song lại đòi hỏi những người làm cỗ thi phải có trình độ thật điêu luyện, có tính cần cù, cẩn thận, tỉ mỉ. Trước lúc làm cỗ, người ta đem giã gừng, hoà với nước mưa cho vào chậu rồi đem đặt ở cổng ra vào, khi muốn vào đều phải xấp tay vào nước gừng trước. Các loại bánh và cơm thi đều được làm cẩn thận ngay từ lúc còn là hạt thóc, bánh chưng làm thế nào để khi mở ra vẫn thấy nguyên hình hạt gạo nhưng đã nhuyễn dẻo và có màu xanh của lá dong, màu trắng tinh của hạt gạo, màu xanh vàng của đỗ khi cắt bánh; đồng thời bánh phải thật chắc tay, miếng bánh phải gọn gàng khi cắt ra. Bánh gio làm sao cho thật trong, có màu vàng sậm, khi bóc ra bày lên đĩa có thể nhìn thấu tận lòng đĩa. Cơm nắm sao cho thật dẻo, chắc tay, khi cắt ra hạt cơm không bị rơi…

Sang ngày 12, Hoàng Hoa Thám cùng với bà Ba và một số người thân cận của ông đến chấm thi. Tuỳ theo giá trị của từng loại cỗ mà xếp loại giải thưởng, Hoàng Hoa Thám treo giải trong hội thường là tiền. Cỗ thi trong hội được xếp theo hàng lối, trên mỗi mâm đều được phủ một miếng vải đỏ. Mâm cỗ nào đạt sẽ được cắm thẻ và sau đó thì trao giải thưởng ngay, người nào đoạt được giải trong hội tất cả bạn bè biết tin đều đến mừng. Giải thưởng của ngày hội tuy không lớn lắm song đó là niềm vinh dự của bản thân, gia đình người thắng cuộc.

Ngoài việc thêm phần vui vẻ cho lễ hội, cuộc thi nấu cỗ còn có ý nghĩa rèn luyện sự khéo léo đảm đang, vai trò của người phụ nữ được đề cao trong công tác “hậu cần”, phần thưởng tuy nhỏ nhưng danh tiếng của người được giải mới là quan trọng, chính điều đó sẽ khích lệ người dân trong vùng chăm lo tăng gia sản xuất, chọn gieo trồng giống lúa tốt thơm ngon có năng suất cao để góp phần cung cấp lương thực cho nghĩa quân. Vũ khí được trang bị đầy đủ, quân số đông, binh lính tinh nhuệ… thì nguồn cung cấp lương thực cũng vô cùng có ý nghĩa. Nhằm tạo nguồn lương thực dồi dào, phong phú; Đề Thám đã lấy hình thức sinh hoạt về tinh thần để khích lệ nhân dân trong vùng hăng say sản xuất cung cấp lương thực cho nghĩa quân cũng như nâng cao đời sống vật chất của chính họ.

Vào thời điểm hoà hoãn với thực dân Pháp, hơn ai hết Đề Thám hiểu rõ mưu mô thâm độc của chúng là vẫn đang tìm cách gây chia rẽ mất đoàn kết nội bộ nghĩa quân và đồng thời có thời gian tìm ra điểm mạnh, yếu của nghĩa quân, từ đó có thể dập tắt cuộc khởi nghĩa. Đề Thám cũng tận dụng thời gian tạm thời yên bình này để chiêu binh mãi mã, tích thảo dồn lương, thu phục những người có cùng chí hướng quyết tâm không đội trời chung với giặc Pháp về với cuộc khởi nghĩa để khi có cơ hội sẽ quyết chiến với kẻ thù.

 Trong thời gian tạm thời đình chiến, tướng lĩnh, binh sĩ cùng nhân dân đồng lòng sát cánh bên nhau hăng say lao động sản xuất…tạo ra những sản phẩm lương thực không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày mà còn dành tích trữ. Ngoài những sản phẩm: lúa, ngô, khoai, sắn, gạo, đỗ… thì các loại bánh chưng, bánh gio, bánh dày, bánh chè lam thi trong ngày hội chính là “lương khô” được nghĩa quân sử dụng một cách tiện lợi nhất mỗi khi giao chiến với giặc Pháp. Việc nổi lửa thổi cơm phục vụ binh sĩ là cần thiết nhưng những lúc cơ động thì các sản phẩm bánh chính là nguồn lương thực đáp ứng nhu cầu sử dụng của nghĩa quân một cách nhanh chóng thuận tiện nhất. Không chỉ thuận tiện, bánh được làm từ gạo, đỗ, thịt, đường…còn là loại thực phẩm đầy đủ nhất các chất dinh dưỡng đảm bảo sức khoẻ cho các binh lính; đồng thời khi được làm cẩn thận từ khâu chọn gạo, đỗ, lá; sơ chế, chế biến, luộc, nấu…thì sẽ bảo quản  được trong một thời gian khá dài. Vì thế ta có thể giải thích được vì sao trong ngày hội mà Hoàng Hoa Thám tổ chức cho nhân dân và nghĩa quân tham gia ngoài các nghi lễ tế thần, kể hạnh thì thi cỗ cũng là một phần của lễ hội.  

Hội Yên Thế ngày nay được mở ra nhằm ôn lại truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nghĩa quân Yên Thế, đồng thời giáo dục truyền thống, lòng tự hào dân tộc cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các thế hệ trẻ. Năm 1984, lễ hội kỷ niệm 100 năm cuộc khởi nghĩa Yên Thế được UBND tỉnh Hà Bắc tổ chức tại đồn Phồn Xương - đại bản doanh của nghĩa quân Yên Thế (thị trấn Gồ, huyện Yên Thế ngày nay). Lễ hội kỷ niệm này đã gây được tiếng vang lớn trong và ngoài tỉnh, nhận được sự quan tâm hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân. Từ đó đến nay, lễ hội kỷ niệm cuộc khởi nghĩa đã trở thành lễ hội tiêu biểu của vùng Yên Thế vào ngày 16/3 dương lịch hàng năm. Chương trình có lễ khai mạc lễ hội, lễ dâng hương; sau đó diễn ra: Hội diễn văn nghệ quần chúng, thi đẩy gậy, thi bắn nỏ, nấu cơm thi, ném còn, lễ phóng ngư thả điểu, lễ giới thiệu ẩm thực tại đền thờ Bà Ba….

Trước sự chứng kiến của du khách dự hội và thắp hương tưởng niệm các anh hùng nghĩa sĩ Yên Thế, tại đồn Phồn Xương (đền thờ Bà Ba) các mâm cỗ đã được giới thiệu; trong không khí trang nghiêm, linh thiêng ngào ngạt trầm hương, năm mâm cỗ với những sản vật giống như cỗ thi trong lễ hội xưa mà Đề Thám tổ chức được đặt trang trọng trên các bàn cao trước đền thờ.

Lễ giới thiệu ẩm thực tại đền thờ Bà Ba đã gợi nhớ cho ta về lễ hội xưa mà Hoàng Hoa Thám đã tổ chức và cách thu phục lòng dân của ông cũng như việc tích trữ lương thực, chuẩn bị quân lương của nghĩa quân Yên Thế. Và đây cũng là tấm lòng thành nguyện của con cháu cụ Đề tưởng nhớ, ghi ơn công lao chống giặc ngoại xâm, cứu dân, cứu nước của cha ông!

Vi Thị Tỉnh

 

 

;?>