• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5245797
  • Số người đang xem: 16
  • Trong ngày: 687
  • Trong tuần: 16463
  • Trong tháng: 1413554
  • Trong năm: 4893574
Trang chủ

Bước đầu tìm hiểu di văn của “Ông Nghè Trâu Lỗ”

( 08:48 | 05/10/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Ông Nghè Trâu Lỗ là tên gọi thân mật mà quê hương dành cho Đình nguyên tiến sĩ Nguyên Đình Tuân.

            Nguyễn Đình Tuân, hiệu là Hữu Mai sinh vào giờ sửu, ngày 12, tiết mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Mão (1867) tại làng Trâu Lỗ, tổng Mai Đình, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Ninh- nay là làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Sinh ra trong gia đình có truyền thống hiếu chuộng Nho học, cả ông nội và cha là cụ Tú Khiêm đều đỗ Tú tài rồi chuyên tâm với nghề dạy học. Tuy gia cảnh thanh bần nhưng bao giờ cũng lấy Thi- Thư để răn dạy và hướng cho con cháu theo nghiệp khoa cử. Ý nguyện ấy được thể hiện rất sâu sắc và được khắc ghi trong những đôi câu đối vẫn treo ở nhà thờ:

學得最 珍天上策

書留不 後人才

Học đắc tối chân thiên thượng sách

Thư lưu bất tận hậu thiên tài.

Có thể hiểu ý thơ của tiền nhân họ Nguyễn là: con người ta cái quý giá nhất là được ăn học và đó cũng là kế thượng sách mà trời ban cho. Người theo đạo học phải thấy được sách là tài sản quý vô cùng thì sau mới trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.Một ông thày địa lý người Trung Hoa hay chữ qua đây cũng đã để lại hai câu tuyệt bút, nét chữ tài hoa mà ý tứ thật là uyên bác vô cùng:

Vấn lai dĩ sự tu vi sử/

Tế nhận như đồ dục mệnh thi

Nghĩa là: Hỏi việc việc đã qua nên đọc sách/ Thấy cảnh như vẽ muốn đề thơ.

Nhân chi sơ mạc bất bản hồ tổ

Hậu hữu kế ân dĩ quang phù tiền

Nghĩa là: Người ta ra đời ai chẳng quý ở cái gốc tiên tổ/ Cháu con kế ân đức làm sáng công đức cha ông.

簿

Sư môn trạch bạc uyên nguyên tại

Đức thụ căn thâm vân lộ nùng

Nghĩa là: Học vấn cửa nhà thầy uyên bác/ Cây đức rễ sâu mưa thấm nhiều

            Sinh ra và lớn lên ở một làng quê hiền hoà có cây đa, bến nước, sân đình, lại được thừa hưởng sự giáo dưỡng theo khuôn phép đạo thánh hiền của cha và sự tần tảo của người mẹ bên khung cửi đã khiến cho tài năng văn học của Nguyễn Đình Tuân sớm nở rộ. Thuở nhỏ ông được xem như thần đồng văn học ở miền hạ huyện Hiệp Hoà. Trong tập tự truyện ông kể đại lược rằng: Mới sáu tuổi đã theo cha đi dạy học ở Thù Sơn và đến năm 12 tuổi đã học hết các pho kinh sử như: Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Tả truyện... Tiếp sau đó 4 năm liền đi khảo khoá hàng phủ, hàng tỉnh đều đỗ hạng ưu, nhưng vì gia cảnh bần hàn ông phải tạm gác sự nghiệp khoa cử để làm nghề dạy học kiếm sống từ khi mới 16 tuổi. Đến năm Đinh Dậu triều vua Thành Thái (1897) mới ra dự kỳ thi Hương và đã đỗ Cử nhân khi 31 tuổi. Ba năm sau lai kinh đô Huế thi Hội đã đỗ Tiến sỹ. Khi vào thi đình vua Thành Thái ra lời sách vấn hỏi về cái gốc của đạo trị quốc, bài trả lời sách vấn của ông đại lược rằng: Cai trị thiên hạ phải có gốc, gốc ấy chính là biết dùng hình luật nghiêm minh, đề cao sự học...Và cao hơn nữa với đức minh vương là phải biết dùng đức trị thì thiên hạ mới thái bình, nhà nước mới thu phục được nhân tâm kẻ sỹ. Vua xem bài thi của ông rất lấy làm hài lòng đã phê đỗ hạng ưu và ban cho đỗ Đình nguyên Tiến sỹ.

            Thi đỗ rồi bước vào hoạn lộ, năm 1903 với chức quan Tri huyện Việt Yên nhưng chỉ được vài tháng đã xảy ra sự hiềm khích với viên quan Đại lý Đức Thắng người Pháp nên ông cáo quan về dạy học. Về nhà được 3 tháng triều đình lại bổ đi làm quan Giáo thụ Yên Bái và liên tiếp 14 năm sau đó ông được giữ các chức quan chuyên tâm với nghề dạy học. Lúc làm quan Đốc học tỉnh Ninh Bình, Đốc học Trường quy thức Hà Nội, sau đó là 8 năm làm quan đốc học tỉnh Hà Đông. Hiện con cháu ông vẫn còn giữ gìn cẩn trọng đạo sắc chỉ phong cho ông giữ chức quan này. Năm Khải Định nguyên niên (1916) vì có nhiều công lao đào tạo nhân tài cho đất nước nên triều đình theo ân lệ phong ấm đã cáo tặng thân phụ chức “Hàn lâm viện thị độc” và mẹ là bà Mỹ Dung được cáo tặng phẩm hàm “Chánh ngũ phẩm Nghi nhân”. Vì trong thời gian làm học quan ông thường giáo du với một sĩ phu yêu nước từng là bạn học như cụ nghè Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân... Lại gặp hiềm khích với viên quan Đại lý người Pháp, rồi cái “hoạ thủ bò” nên ông không được chính quyền cai trị thực dân tin dùng. Năm 1919 ông được đổi sang làm quan Án sát Bắc Ninh và ở chức quan này 3 năm. Trong lời tự chuyện ông tâm sự: “Tuy làm Án sát nhưng việc xử kiện phải theo Chánh án Tây, nó uỷ thác việc gì thì hội thẩm việc ấy chứ chẳng có quyền xử đoán...”. Năm 1924 tỉnh Thái Nguyên khuyết chức quan Án sát và Tuần phủ nên ông lại được điều đến giữ chức quan Án sát kiêm Tuần phủ tỉnh Thái Nguyên, nhưng thực chất ông chỉ được thực thi nhiệm vụ của quan Tuần phủ, còn Án sát chỉ là chức quan hữu danh vô thực mà chính quyền cai trị đặt ra cho quan người Việt còn việc thực thi đều do chúng đảm nhiệm. Thời gian làm quan Tuần phủ Thái Nguyên ông Nghè Sổ đã tập hợp hơn chục lính mãn hạn về lập ấp ở địa phương phía Tây bắc Thái Nguyên và đặt tên ấp là Tân Cương. Sau lại giúp dân làm đình, bàn cách lấy giống chè Phú Thọ về trồng ở Tân Cương, nhân dân làm ăn thịnh vượng từ cây chè nên đã tôn thờ ông làm thành hoàng làng khi ông còn tại chức.

            Năm Đinh Mão (1927) theo lệ 60 tuổi ông được về nghỉ hưu tại quê nhà. Trong lời tự truyện viết lúc cuối đời, có đoạn ông nhắc đến sự kiện này như sau: “Năm Đinh Mão theo lệ được về hưu trí, thật là bể loạn đã qua, về chốn điền viên vui vẻ, mình thấy thư thái vô cùng...”

            Với ông quãng đời làm quan được xem như bể hoạn, vì đã chót theo đòi nghiệp khoa cử, lại đỗ đạt cao, nếu không ra làm quan sao có thể ngồi yên với chính quyền thực dân cai trị. Đó cũng là lý do để giải thích tinh thần thư thái mà ông bộc bạch trong tự truyện khi được về vui thú điền viên.

            Hơn hai mươi năm theo đòi nghiên bút để rồi hơn hai mươi năm dấn thân vào chốn quan trường nhưng ông chẳng tìm được niềm vui mà coi nó chỉ là “bể hoạn”. Trở về quê hương được chuyên tâm với nghề dạy học rồi tìm đến bằng hữu đàm đạo văn chương thế sự là cái thú của nhà Nho và cũng là ước nguyện da diết mà cả đời ông theo đuổi.

            Khi theo đòi nghiên bút, lúc làm quan rồi lúc về quê hương đoàn tụ vui thú điền viên Nguyễn Đình Tuân sáng tác nhiều thơ, văn, câu đối, văn bia có giá trị về văn học, lịch sử, văn hoá... nhưng rất tiếc trong thời mkỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược vì không có điều kiện bảo quản nên con cháu đã để thất lạc mất nhiều. Trước tác đồ sộ nhất mà ông để lại cho hậu thế là bộ sử “Đại Việt quốc sử cải lương” ( 大南國史改良) đã được các nhà nghiên cứu đánh giá cao về mặt nội dung đồng thời được xem là pho sử quý về chữ Hán - Nôm được biên soạn cuối cùng của nước nhà dưới thời phong kiến.

Hậu duệ của ông và một số người yêu chuộng đức độ thanh tao và tài năng  văn chương ông đã bỏ công sưu tầm di văn của ông, nhưng số lượng sưu tầm được không nhiều. Ngoài bộ sử “Đại Việt quốc sử cải lương” và bài Văn sách thi Đình khoa Tân sửu triều vua Thành Thái năm 1901 (Đình đối sách văn) di văn của ông còn lại gồm gần chục bài thơ và một số câu đối, văn bia hiện tồn tại ở các di tích nơi ông từng cư quan nhậm chức hay trên quê hương vùng Hiệp Hoà.

Đây là bài thơ ông đề ở đền Y Sơn, nơi chôn rau cắt rốn và cũng là nơi khởi nguồn cho sự nghiệp thi thư của ông:

Tự cổ danh sơn tú

Anh chung cái thế hào

Việt Nam hồng hữu duệ

Giang Bắc hổ vô sào

Kiến tiết hùng lang trọng

Bình tàn vũ lược cao

Thiên thu hoàn tụ xứ

Trường thử đối huân cao

            Bài thơ được tạm dịch là: Chùa cổ tô danh thắm/ Chuông thiêng ngân khắp vùng/ Đất Việt hồng nối dõi/ Sông Bắc hổ về đâu/ Dựng nên cơ nghiệp lớn/ Trừ tàn, vũ lược cao/Nghìn thu khí thiêng tụ/ Rạng ngời muôn thuở sau.

            Nguyễn Đình Tuân là người mến chuộng cảnh trí quê hương. Khi về chí sĩ ông được nhiều làng quê tin yêu nhờ cậy soạn những bài châm, câu đối đề vịnh tại các di tích lịch sử văn hóa.Và đây là hai bài thơ vịnh đề ở đền Trâu Lỗ quê hương ông:

Bài 1:

Vân thiên chấn xuất diễn thần minh

Hoa ngạc tương cao hiếu nghĩa danh

Tinh nhật sơn hà Trâu cố quốc

Cổ khâu u kính lý diêu thành

Lan sơn minh nguyệt phường sơn sắc

Đức thuỷ thanh phong hoạt thuỷ thanh

Tối thị cương thường thiên cổ trọng

Đống Lương vũ trụ, trụ sinh linh

            Tạm dịch là: Ánh sáng trời đông rạng mây lành/ Hiếu nghĩa con người nức tiếng thanh/ Trời, sao, sông núi nhà thu cũ/ Gò cũ thâm u dựng nên thành/ Núi Lan trăng sáng đêm thêm đẹp/ Sông Nguyệt gió lành tiếng nước thanh/ Cương thường đạo lý xưa nay trọng/ Đống lương trụ cột mọi sinh linh.

            Bài 2:

Chấn cung nhật lệ cái vân na

Bồi thự cương thường trụ quốc gia

Hiếu nghĩa cao huyền thiên nhật nguyệt

Tinh linh như tại đế sơn hà

Tằng đài nhuỵ vọng lên hoa ngạc

Lung mệnh điều vuông bí cổn hoa

Chiêm ngưỡng thiên thu bằng ký vấn

Phù lan sơn tước đức giang ba.

Tạm dich: Chấn cung ngày đẹp rộng bao la/ Trồng đức cương thường trụ quốc gia/ Hiếu nghĩa sáng trong như nhật nguyệ/ Tinh linh còn mãi với sơn hà/ Hoa thơm phảng phất nơi đài tạ/ Ơn trời làm rạng áo vua ta/ Ngẫm ngàn năm trước ơn ghi nhớ/ Dựa ngọn Lan Sơn ngắm thuỷ ba.

Bước đầu giới thiệu di văn của “ông Nghè Trâu Lỗ” chúng tôi hy vọng sẽ nhận được sự hợp tác của độc giả, những người yêu mến ông cùng chung tay sưu tầm, tập hợp di văn của ông để một ngày không xa sẽ công bố đầy đủ đến độc giả những di sản văn hóa quý giá mà danh nhân khoa bảng Nguyễn Đình Tuân đã để lại cho đời./.

Vân Hồng

 

;?>