• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5245820
  • Số người đang xem: 16
  • Trong ngày: 710
  • Trong tuần: 16486
  • Trong tháng: 1413577
  • Trong năm: 4893597
Trang chủ

Gia thế danh tướng Phạm Văn Liêu trong lòng người dân Xứ Bắc

( 14:55 | 05/10/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

1. Trải qua mười năm “nếm mật nằm gai” vô cùng gian khổ, xây dựng lực lượng ở Lam Sơn (Thanh Hoá), nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã tiến quân ra Bắc vào tháng 9 năm 1426. Sau khi diệt gọn các đồn trú của giặc Minh trên đường Bắc tiến, với thế mạnh như chẻ tre, nghĩa quân tiến hành vây thành Đông Quan, đồng thời mở chiến dịch Tốt Động, Trúc Động, Ninh Kiều thắng lợi rồi lệnh cho hơn một nghìn tướng sĩ vượt sông Nhĩ Hà (sông Hồng) tiến lên Bắc Giang - Lạng Giang bao vây hai thành Thị Cầu và Xương Giang.

Thành Thị Cầu nhanh chóng bị diệt. Bị bao vây tiêu diệt trên các chiến trường, giặc Minh co cụm vào thành Đông Quan, Xương Giang cố thủ, đồng thời bí mật cử người về Bắc quốc xin cầu cứu viện binh. Với tài thao lược, nắm bắt được âm mưu kế sách của kẻ thù, Nguyễn Trãi đã dâng kế sách cho Lê Lợi; một mặt ngày đêm vây đánh thành Đông Đô, một mặt chủ động công thành Xương Giang, sau đó tập trung tiêu diệt viện binh rồi mới tiêu diệt cơ quan đầu não giặc Minh ở Đông Quan. Sau chín tháng bao vây và liên tục tấn công, quân giặc trong thành Xương Giang bị tiêu hao, lương thực cạn dần, sức quân kiệt quệ…thì ngày mồng 8 tháng chín năm Đinh Dậu, (1427) quân ta tổng công kích hạ thành Xương Giang. Đến ngày 15 tháng 10 năm 1427 đại viện binh với hơn 10 vạn người ngựa của giặc Minh đại bại trên chiến trường Xương Giang.

Thắng lớn ở chiến trường Xương Giang, quân ta dồn quân xiết chặt vòng vây uy hiếp quân giặc ở thành Đông Quan. Được tin Liễu Thăng, Lương Văn Minh, Lý Khánh, Thôi Tụ Hoằng Phúc tử trận quân giặc trong thành khiếp vía không dám hành động gì nữa. Tổng đốc Vương Thông và Sơn Thọ biết trước sự bại vong bèn cho người mang thư đến xin giảng hoà và xin mở đường cho về chính quốc.

Đầu xuân năm Mậu Thân (1428) vua Lê Lợi mở hội mừng chiến thắng, để tổng kết, bố cáo với bá quan và toàn dân nước Đại Việt kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống giặc Minh, đồng thời chấm dứt hơn hai mươi năm ách đô hộ hà khắc, tàn bạo của triều đình nhà Minh. Thay mặt vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã viết “Bình Ngô đại cáo” - áng thiên cổ hùng văn đến nay vẫn còn vang vọng hào khí chiến thắng: “…Đánh một trận, sạch không kình ngạc/Đánh hai trận tan tác chim muông/ Nó như kiến tan dưới bờ đê vỡ/ Ta tựa cơn gió mạnh quét sạch lá khô/ Đô Đốc Thôi Tụ lê gối xin hàng/ Thượng Thư Hoàng Phúc trói mình đành chịu bắt/ Lạng Giang, Lạng Sơn thây chết đầy đường/ Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước/ Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi / Thảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ…” (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi).

             Xương Giang phú (Phú Xương Giang) của thi hào Lý Tử Tấn được xem như bài tổng kết thứ hai về công cuộc “bình Ngô” của quân dân Đại Việt. Nhà thơ đã sánh chiến thắng Xương Giang vẻ vang, vĩ đại vượt tầm trận Hợp Phì, Xích Bích lừng danh trong lịch sử Trung Hoa: “…Xương chất thành núi/ Máu chảy thành sông/  Bốn cõi mây mờ quét sạch/ Giữa trời ánh sáng huy hoàng/ Kìa trận Hợp Phì oanh liệt thuở trước/ Trận Xích Bích toàn thắng đời xưa…Sao bằng đây Xương Giang vẻ vang…” (Xương Giang phú - Lý Tử Tấn).

Lê Quý Đôn trong sách Đại Việt thông sử đã đánh giá: “Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nước Nam ta thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy”.

 Chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang được thế hệ hôm nay xem như Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “chấn động địa cầu”, hay Chiến dịch mùa xuân 1975 đại thắng.

Chiến trận Xương Giang diễn ra cách đây 582 năm, nhưng âm hưởng của nó vẫn vang vọng và sẽ ngân xa suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Đó chính là hào khí Đại Việt, niềm tự hào của dân tộc ta nói chung, của quê hương Bắc Giang nói riêng.

Trong cuộc kháng chiến chống Minh vĩ đại, khi xét ban thưởng chức tước, bổng lộc cho tướng sĩ tùy theo công trạng có 120 vị tướng có công đầu được vua Lê Lợi ban cho quốc tính và ghi trong Sổ Hội đồng và truyền lại muôn đời cho con cháu được hưởng lộc nước.

2. Người được liệt danh thứ 89 trong cuốn sổ vàng ấy là Lê Liêu (tức Phạm Văn Liêu, có tài liệu ghi là Phạm Đình Liêu), một danh tướng từ nhỏ đã theo cha tham gia nghĩa quân Lam Sơn, từng tham gia nhiều trận đánh ác liệt trên các chiến trường ở vùng núi rừng Thanh Hoa, Nghệ An, Tốt Động, Trúc Động…và đặc biệt có công đầu trong cuộc chiến công thành Xương Giang và tiêu diệt đại viện binh nhà Minh trên chiến trường Xương Giang lịch sử.

Phạm Văn Liêu là con Phạm Văn Thánh, từng được tặng hàm Đô đốc đồng tri. Nguyên quán ở thôn Nguyên Xá, hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, xứ Thanh Hóa. Ông theo Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn gây dựng phong trào kháng chiến chống quân Minh từ những ngày đầu ở hội thề Lũng Nhai. Trong cuộc kháng chiến gian khổ chống giặc Minh xâm lược, ông từng lập nhiều công lớn trên chiến trường Nghệ An, Thanh Hóa. Khi Chủ tướng Lê Lợi tiến quân ra Bắc, ông lại được cùng các đại tướng tài danh như Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Lê Lãnh, Lê Triện… công thành Xương Giang thắng lợi. Trong đại chiến tiêu diệt viện binh nhà Minh trên chiến trường Xương Giang, Phạm Văn Liêu là vị tướng chỉ huy một đạo quân mật phục ven bờ sông Thương (vùng Xuân Hương, Mỹ Thái, huyện Lạng Giang ngày nay) rồi đồng loạt tổng công kích tiêu diệt và bắt sống hơn 7 vạn viện binh nhà Minh vào cuối năm 1427.

Tiêu diệt xong viện binh xâm lược, Phạm Văn Liêu ông được Lê Lợi cử ở lại Kinh Bắc trấn giữ miền phên dậu phía bắc thành Đông Đô. Năm 1428, cuộc kháng chiến chống giặc Minh kết thúc, ông được phong chức Ngân thanh vinh lộc đại phu, Tả xa kỵ đại tướng quân tước Khang Vũ hầu, sau thăng tước Khang Quốc cụng. Do công lao trong cuộc kháng chiến chống Minh, khi xét phong thưởng ông được dự vào hàng “khai quốc công thần” (bề tôi có công mở nước), được mang quốc tính (Lê Văn Liêu) và được phong nhiều thực ấp ở xứ Kinh Bắc và sinh cư lạc nghiệp tại xóm Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang ngày nay.

Năm Bính Tý (1456) Phạm Văn Liêu mất tại Kinh Bắc. Mộ phần đặt tại Rừng Cấm, thôn Chùa, xã Xuân Mãn, huyện Bảo Lộc, phủ Lạng Giang (Nay là thôn Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang).

3. Phạm Văn Liêu có hai người con, một trai, một gái. Người con gái được tuyển vào cung sau được phong làm Minh Phi. Sách Đại Việt thông sử, sử gia Lê Quý Đôn chép về bà như sau : "Phạm Minh phi (vợ vua Lê Thánh Tông) Minh phi họ Phạm là cháu của quan được tặng hàm Đô Đốc đồng tri tên là Thánh và là con của quan được tặng Đô Đốc đồng tri Tri Khang Vũ bá Phạm Văn Liêu. Bà được tuyển vào cung ngày Mậu Ngọ tháng 7 niên hiệu Quang Thuận thứ 2 (1461). Tháng 9 ngày Đinh Mùi được phong Tiệp dư. Ngày Nhâm Dần tháng ? niên hiệu Quang Thuận thứ 6 (1465) được thăng Tu viên. Ngày Quý Sửu tháng 6 năm Hồng Đức thứ 2 (năm 1471) thăng làm Chiêu viên. Ngày Bính Dần tháng 11 năm 1477 tiến phong là Minh phi được ở cung Thụy Đức. Năm 1497 vua Thánh Tông mất. Năm Cảnh Thống thứ nhất (1498) vì bà là cung phi triều trước nên phụng sự ở cung Thiên An không bao lâu thì bị bệnh. Ngày Giáp Ngọ tháng 9 bà mất thọ 50 tuổi được vua ban số tiền an ủi là 27 vạn và sai quan dụ tế, mang về an táng ở cánh đồng Linh Hòa thuộc huyện Lạng Giang.

Người con thứ hai của Phạm Văn Liêu là Phạm Đức Hóa, được vinh phong Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Tư Đô kiểm điểm, tước Hoa Phong bá (sau được tặng Hoa Phong hầu) được kén làm Phò mã. Phạm Đức Hóa lấy con gái thứ 8 của vua Thánh Tông Thuần Hoàng đế là Thiều Dương công chúa Lê Thị Ngọc Khanh. Như vậy, Phạm Đức Hóa vốn là em vợ, sau được kén làm con rể (phò mã) của đức vua Lê Thánh Tông. Còn người cha Phạm Đình Liêu vừa là bố vợ vừa là thông gia của vị hiền vương này. Khi an cư lạc nghiệp trên phần đất được phân phong gia đình họ Phạm đã trở thành một gia đình có thế lực ở xứ Kinh Bắc.

4. Với những bổng lộc của triều đình ban thưởng và hoa lợi của 2370 mẫu ruộng được phân phong, gia đình họ Phạm, nhất là công chúa Thiều Dương Phạm Thị Ngọc Khanh đã đem ban phát, công đức cho nhiều địa phương ở xứ Kinh Bắc xây dựng mở mang các công trình phúc lợi nên được nhiều địa phương tôn thờ. Theo tờ khai của Lý trưởng địa phương từ năm 1942, thì trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 15 ngôi đình thờ cha con Phạm Văn Liêu và công chúa Thiều Dương làm Phúc thần/ Thành hoàng. Riêng tổng Tri Lễ, huyện Bảo Lộc xưa (nay thuộc 4 xã: Dương Đức, Xuân Hương, Tri Lễ, Tân Thanh của huyện Lạng Giang) có 8 làng/xã tôn thờ và vẫn lưu giữ sắc phong, bài vị tôn thờ ba vị, đó là các xã: Chuyên Mỹ, Chí Mỹ, Đại Mãn, Xuân Mãn, Hương Mãn…

Phạm Văn Liêu đã trở thành thuỷ tổ của dòng họ Phạm ở làng Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang. Hiện ở làng Chùa vẫn còn di tích phần mộ và nhà thờ họ, nơi tôn thờ và lưu niệm danh tướng lịch sử Phạm Văn Liêu. Di tích đã được Bộ VHTT quyết định cấp bằng xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.

Trung tâm thờ Thiều Dương công chúa là đền Từ Mận (nay thuộc xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang), tương truyền đây là nơi hoá của công chúa, hiện vẫn còn phần mộ. Xưa vào ngày hội đền, dân tám xã của tổng Tri Lễ vẫn dâng lễ về đền Từ Mận để bày tỏ lòng tri ân trước linh vị công chúa Thiều Dương.

Ở thôn Hoàng Mai, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên nhân dân cũng ngưỡng mộ tôn thờ công chúa Thiều Dương. Kỳ lạ, ở đây cũng có phần mộ công chúa và nhân dân địa phương vẫn còn lưu bản thần tích từ xa xưa về Thiều Dương công chúa.

Ở làng Ảm, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng có di tích Xa Lâu điện thờ, nơi tôn thờ Hoa phong hầu Phạm Đức Hoá và công chúa nhà Lê.

Dân gian vùng Yên Dũng - Việt Yên (Bắc Giang ) còn lưu truyền câu phương ngôn :

- Thứ nhất Phủ Xe

   Thứ nhì nghè Nếnh

                   - Lắm của Ông Lân, lắm quân Ông Hán, lắm bạn Ông Nghè.

Phủ Xe như đã biết, chính là tên Nôm của Xa Lâu điện. Nghè Nếnh là di tích nằm ở thôn Ninh Khánh, nhưng là của 6 xã vùng Nếnh khi xưa (Khánh Ninh, Yên Ninh, Lai Ninh, Mật Ninh, Liên Hồ, Đông Minh) xây dựng từ thế kỷ 16-17 để phụng thờ đức thánh Tam Giang. Đến năm Giáp Dần niên hiệu Đức Nguyên nguyên niên (1674) có người ở xã Như Thiết cùng huyện là Hán Quận công Thân Công Tài làm quan Đô Đốc các xứ Kinh Bắc, Lạng Sơn đã công đức cho địa phương 100 mẫu ruộng, 7 xâu tiền, 700 quan để trùng tu tôn tạo nghè Nếnh. Từ đó nghè Nếnh thờ phối hưởng cả Hán Quận công Thân Công Tài. Tương truyền nghè Nếnh rất linh thiêng và là công trình tín ngưỡng của cả tổng Mật Ninh cho nên lễ hội rất lớn nổi tiếng khắp vùng.

Còn ở Phủ Xe (Xa Lâu điện) vào năm Bính Dần niên hiệu Dương Đức thứ 2 (1673) có một số vị quan cao chức trọng ở triều đình đã về đây công đức tiền ruộng để nhân dân trùng tu, tôn tạo Xa Lâu điện, số tiền có tới hàng trăm quan, ruộng tới hơn 70 mẫu. Phủ Xe cũng nổi tiếng linh thiêng và đã trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa cả vùng biết đến. Cho nên câu phương ngôn "Thứ nhất Phủ Xe, thứ nhì nghè Nếnh" là muốn ca ngợi tấm lòng công đức lớn lao của các vị quan lại phong kiến với quê hương, đồng thời phản ánh quy mô sự ảnh hưởng rộng rãi của hai di tích này tới đời sống tín ngưỡng trong vùng, thêm nữa có lẽ còn hàm ý so sánh về sự linh thiêng của Phủ Xe và nghè Nếnh.

Các nhân vật được phụng thờ ở Xa Lâu điện là: Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Tông và con gái thứ 8 của bà là Thái trưởng công chúa Lê Thị Ngọc Kế  cùng quan Tư Đồ kiểm điểm Hoa Phong hầu Phạm Đức Hóa.

Hiện trên các làng xã thuộc hai huyện Lạng Giang, Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang còn lưu giữ hàng trăm đạo sắc phong của các triều đại phong kiến ban/ phong các làng xã tôn thờ ba cha con Khang Quốc công Phạm Văn Liêu. 

 Như vậy, Khang Quốc công Phạm Đình Liêu, Hoa Phong hầu Phạm Đức Hoá, Thiều Dương công chúa Lê Thị Ngọc Khanh được nhiều địa phương vùng thượng Xứ Bắc tôn thờ và được các triều đại phong kiến phong làm Phúc thần cho phép các địa phương thờ tự. Các di tích tôn thờ chư vị được chính quyền và nhân dân các địa phương quan tâm bảo tồn, trùng tu, tôn tạo ngày càng khang trang tố hảo.

Thành phố Bắc Giang nay đã có tên đường mang tên Phạm Văn Liêu. Đó là đoạn đường chạy dọc giữa làng Thành - làng Vẽ (phường Thọ Xương và xã Xương Giang), nơi từng là chiến trường ghi dấu chiến công của danh tướng Phạm Văn Liêu trong trận công đồn Xương Giang oanh liệt mùa thu năm 1427 đại thắng./.

Nguyễn Văn Phong

 

;?>