• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5041454
  • Số người đang xem: 17
  • Trong ngày: 589
  • Trong tuần: 28133
  • Trong tháng: 1209211
  • Trong năm: 4689231
Trang chủ

Hát đám cưới của dân tộc Nùng ở Bắc Giang

( 19:58 | 05/11/2014 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Dân tộc Nùng là dân tộc thiểu số chiếm số lượng đông nhất trong số các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang. Bà con có một truyền thống văn hoá vô cùng đặc sắc và mang đậm truyền thống của dân tộc mình, tiêu biểu nhất là việc sinh hoạt hát dân ca. Lời ca, tiếng hát gắn liền với cuộc sống sinh hoạt, tâm linh tín ngưỡng của người Nùng. Từ lúc mới lọt lòng được ba ngày, em bé người Nùng đã được nghe hát cúng mụ (cúng mụ va)… Lớn lên đang độ tuổi đẹp nhất của đời người thì đi hát giao duyên đối đáp (thường hát vào mùa xuân - sli shình lang), khi lấy chồng lấy vợ thì hát đám cưới (sli kin lẩu - cò lẩu), lúc có điều kiện xây dựng được ngôi nhà mới lại ca hát vào nhà mới (sli khảu lừn máư), đến khi tuổi đã xế chiều được con cái quan tâm tổ chức sinh nhật thì những người bạn già lại đến chia vui chúc mạnh khoẻ, sống lâu bằng những câu hát mừng sinh nhật (sli kin khoăn)…

Hát đám cưới (sli kin lẩu - cò lẩu) được diễn ra trong đám cưới của đôi trai gái người Nùng. Để lễ cưới của một đôi trai gái được diễn ra thì trước đó họ hàng bên trai gái đã làm rất nhiều thủ tục thông qua các nghi lễ: Xin lá số: Trước tiên, khi nhà trai thấy cô gái nào mà bản thân chàng trai và nhà trai ưng ý thì phải mời một người là ông mối (bà mối), đây là một người khéo ăn, khéo nói, vợ chồng song toàn, con gái đủ nếp đủ tẻ…và vốn đã có tiếng là “mát tay” xe duyên cho các đôi trai gái. Ông (bà) mối sẽ sang nhà gái để xin tuổi của cô gái sau đó đưa tuổi của đôi trai gái cho thầy xem có hợp không. Nếu không hợp thì hai bên coi như là chưa có chuyện gì xảy ra, nếu hợp thì nhà trai mang lễ vật đến nhà gái làm lễ báo hợp. Sau lễ báo hợp là lễ ăn hỏi, trong ngày này nhà gái sẽ thách cưới nhà trai và hai bên sẽ thống nhất ngày giờ cưới. Sau lễ ăn hỏi, nếu chưa cưới ngay chú rể phải đi sêu Tết bố mẹ vợ; có người phải đi đến ba năm; mỗi năm vào các dịp Tết nguyên đán, mùng 3/3, 5/5, 15/7…chàng rể tương lai phải đến nhà bố mẹ vợ cùng các lễ vật gồm có chai rượu trắng, 1 kg thịt lợn, một ít sản vật theo mùa. Sau lễ ăn hỏi là lễ cưới, trước ngày cưới một ngày, nhà trai phải mang những lễ vật đã thách cưới đến nhà gái, lễ vật thường có: 1 tạ lợn móc hàm, rượu (từ 50 lít đến 100 lít), 1 con lợn quay ( ừ 30-40 kg), chè, thuốc lá, trầu cau, tiền…Ngày trước, lễ cưới được diễn ra trong 4 ngày, 2 ngày trước bên nhà gái, 2 ngày sau bên nhà trai.

Ngày cưới không chỉ là ngày vui của gia đình của hai bên họ hàng nội, ngoại vì đã kén được “dâu thảo rể hiền” mà ngày cưới của người Nùng còn là một buổi sinh hoạt văn nghệ vui vẻ, ngày mà các cô thiếu nữ bên nhà gái có dịp thử tài các thanh niên bên nhà trai. Trong thời gian chuẩn bị đến ngày cưới, hai bên nhà trai nhà gái đều phải đi tìm người làm phù dâu, phù rể. Những người được mời làm phù dâu, phù rể ngoài việc họ có một hình thức tương đối bắt mắt, đạo đức trong sáng, thì đặc biệt họ phải có một giọng hát thật hay, khả năng ứng khẩu thật nhạy bén, sắc sảo (Không phân biệt họ đã có vợ hay đã có chồng). Để mời được phù dâu phù rể ưng ý cho đám cưới nhà mình nhiều nhà phải đi mời trước hàng tháng. Người Nùng rất giữ chữ tín, nếu đã đồng ý rồi thì không thể thất hứa mà đi làm cho đám khác. Khi nhà trai đến nhà gái để đón dâu, nhà gái đặt trước cửa nhà một cái ghế băng dài, trên ghế đặt 4 hoặc 6 chén rượu (người Nùng rất chuộng số chẵn, họ quan niệm như thế mới có cặp có đôi), phù dâu bên nhà gái hát trước, phù rể bên nhà trai căn cứ vào bài hát mà phải hát đối lại; trong đám cưới phù dâu - phù rể sẽ là nhóm trưởng (nhóm các cô gái biết hát bên nhà gái, nhóm các chàng trai biết hát bên nhà trai) để phụ trách việc hát đối đáp cò lẩu. Cuộc hát cò lẩu diễn ra rất vui vẻ, rộn ràng tiếng cười của trai gái người Nùng và nụ cười ý nhị của các bậc cao niên của hai họ. Nếu nhà trai thua cuộc thì phải chịu phạt uống rượu và đưa quà bánh cho nhà gái, họ mới chịu cho nhà trai vào nhà đón dâu. Nhiều đám cưới phải có sự can thiệp của các cụ già thì nhà trai mới có thể bước vào nhà gái để thưa chuyện. Trong không khí như thế nên lời ca trong hát cò lẩu vừa vui vẻ nhưng cũng ngầm chứa sự thách thức của nhà gái đối với nhà trai; ví dụ như:

Nhà gái hát:

Khà sai ngộ cừn đá

Khà sá ngộ cừn tẳng

Gượng hư cơm long ma cơm long tị…

Tạm dịch nghĩa: Chân trái đặt trên ghế/Chân phải đặt trên ghế/Làm thế nào mà bước xuống đất được…

Nhà trai đáp:

Khả sai vứt long ma

Khà sá vứt long tị

Tạm dịch nghĩa: Chân trái vứt xuống đất/Chân phải vứt xuống đất…

Hát trong đám cưới không chỉ là sự đối đáp giữa nhà trai và nhà gái mà còn là lời chào đầy nước mắt hạnh phúc trong ngày cưới của đôi trai gái với bố mẹ trước khi đưa dâu về nhà chồng:

Pa mé trang lừn ới

Vin nả mà ty đu

Kẻng hu mà ty tình

Tinh àn pác lục tàm

Còi ăn vàm lục trảng

Háng cón náo hăn trảng

Háng và ngám khạ thưng

Khạ thưng lục dì ma

Bó đìm khó dìm ngà

Cáp pả nà đủi căn…

Nghĩa là: Bố mẹ trong nhà ơi/Ngoảnh mặt về đây con bảo điều nay/Chúng con muốn kết bạn cùng nhau/Nếu bố mẹ không chê con nghèo khổ/Con chẳng quản ngại đường xa/Cách ba lần đò con cũng đến/Chúc hạnh phúc trăm năm/Chúc sống lâu trăm tuổi/Đông con cháu đầy đàn…

Sau khi sang nhà trai, cuộc hát vẫn được tiếp tục với lời hát đòi rửa mặt của phù dâu vào buổi sáng (phù dâu đi cùng cô dâu và ngủ lại cùng cô dâu vào đêm ngày thứ ba của đám cưới), cuộc hát lại cứ thế tiếp diễn trong say sưa, vui vẻ đến bữa cơm buổi chiều mới dừng. Đám cưới kết thúc, phù dâu phải lấy được bốn chén đã được uống rượu ở nhà trai, ngược lại phù rể phải lấy được bốn chén uống rượu ở nhà gái đem về với ý nghĩa là lấy lộc hay lại duyên (giống như dân tộc Kinh trả tiền lẻ cho những những người bưng lễ hôm ăn hỏi); họ được nhà gái, nhà trai trả công 1 kg thịt lợn hay một chân giò lợn và một chút tiền.

Hát đám cưới là một hình thức sinh hoạt văn hoá - văn nghệ độc đáo không chỉ của riêng bà con dân tộc Nùng mà còn là nét văn hoá tiêu biểu của một tỉnh miền núi như Bắc Giang. Được khôi phục phong tục đẹp này luôn là điều mong muốn của các thế hệ bà con người Nùng và để làm được điều nay cần có sự phối hợp thống nhất, đồng bộ giữa các cơ quan chuyên môn với các cấp chính quyền trong giai đoạn hiện nay.  

Vi Thị Tỉnh 

 

 

;?>