• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4650525
  • Số người đang xem: 32
  • Trong ngày: 1819
  • Trong tuần: 9413
  • Trong tháng: 818282
  • Trong năm: 4298302
Trang chủ

Tìm hiểu về tục cúng hậu ở Bắc Giang qua một số tư liệu văn bia

( 14:53 | 13/02/2015 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Trong kho tàng văn hoá dân gian truyền thống của dân tộc, tục cúng hậu là một phong tục đẹp xuất hiện ở nước ta rừ rất lâu đời. Theo các nguồn tư liệu lịch sử cho biết, đến đầu thế kỷ XVII tục cúng Hậu và khắc bia ký Hậu đã khá phổ biến ở trên khắp đất nước ta từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Đặc biệt ở Bắc Giang vào thế kỷ XVII, XVIII, XIX, việc cúng Hậu cũng rất phát triển và việc khắc bia ghi lại tên tuổi, công đức của những người cúng Hậu được tiến hành với số lượng lớn. Hiện nay, trong số những văn bia còn lưu giữ được ở Bắc Giang số lượng văn bia ghi lại việc lập Hậu - cúng Hậu chiếm một số lượng không nhỏgóp phần quan trọng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu vốn văn hoa truyền thống của vùng đất Bắc Giang nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Cúng Hậu là hình thức cúng ruộng, tiền, vàng bạc, đồ thờ …. cho làng hoặc cho đình, chùa… để được cúng giỗ lâu dài sau khi “trăm tuổi về già”. Thông thường, người nào có tiền, có của mà không có con trai nối dõi để khỏi phải chịu cảnh “cướp cháo lá đa” thì ngoài việc lập người kế tự giữ gìn hương hoả, người ta còn cúng Hậuxuất phát từ một nguyên nhân là không có người nối dõi phụng thờ. Có người nhân lúc làng gặp khó khăn là cúng tiền, ruộng để giúp đỡ mà được bầu Hậu. Có người cúng Hậu để nhờ làng, đình, chùa, đền, miếu … cúng giỗ cho bản thân hoặc những người thân trong gia đình, lại cũng có người cúng Hậu để nâng cao uy tín, địa vị của bản thân, của dòng họ hoặc chỉ để nương bóng Thần Phật mong cả làng cúng giỗ mình thì hương hoả càng được lâu dài.

Những người làm quan cao có công với dân với nước hoặc những người có lòng nhân đức hay làm việc phúc thiện ở địa phương cũng có thể được dân làng nhớ ơn mà bầu Hậu, thường là Hậu Thần (tức là người được tôn thờ sau vị Thần ở đình). Như tấm bia “Hiển khánh am bi” dựng ở lăng chúa Đôi, xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hoà tạo năm Thịnh Đức thứ 3 (1655) ghi việc: Đĩnh quận công Ngô Công Mỹ, tặng Đô đốc đồng tri, người xã Quế Trạo, huyện Hiệp Hoà, phủ Bắc Hà là người tuấn tú, có công giúp nhà chúa, từng nhiều lần đựơc thăng thưởng. Tuy vậy, ông vẫn nghĩ vinh hiển ở đương thời không bằng lưu danh muôn thủa. Do vậy ông đã đem bạc tinh, ruộng tốt biếu cho 3 xã: Quế Trạo, Đức Thắng và Thù Sơn để dựng 2 ngôi am thờ, 1 bằng đá, 1 bằng gạch ngói gồm 3 dãy mỗi dãy 5 gian. Cho nên quan viên, hương lão cùng toàn thể mọi người lớn nhỏ trong 3 xã thuận lòng bầu cha mẹ và vợ chồng ông làm Hậu Thần. Quan dân đem số ruộng của ông tiến cúng là 44 mẫu chia nhau cày cấy chỉ để lại 4 mẫu giao cho người trông nom quét dọn am làm ruộng hương hoả. Đối với những người chỉ góp tiền của, không có phẩm tước thì chỉ được bầu làm Hậu Phật. Trong một số trường hợp một người vừa được bầu làm Hậu Thần, vừa được bầu làm Hậu Phật ở trong đình chùa (Hậu Phật bi ký, bia ở chùa xã Quế Nham, huyện Tân Yên tạo năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738): ghi việc Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Thị Nam cung, Phó thư hiệu, Tiền tượng cơ, Phó cai quan, Trị thị nội thư, Tả binh phiên, Thị cận Thị nội giám, Ty lễ giám, Tổng thái giám, Đô chỉ huy sứ, được phong tặng: Tham đốc thượng trụ quốc Lập quận công Giáp tướng công, tự Trung Túc, thuỵ Cẩn Đạt phủ quân là người trung với vua, yêu mến dân, thường giúp đỡ kẻ nghèo khó. Vì thế nên dân xã rất kính trọng ông, tôn ông làm Hậu Thần. Về sau ông cúng cho xã 5 mẫu 5 sào 8 thước 6 tấc ruộng để phụng thờ Phật, do đó các quan viên, hương lão và toàn dân xã tôn ông làm Hậu Phật. Khi ông mất dân tiếc thương nhớ ơn đã dựng tượng ở chùa để thờ cúng lâu dài.

Thông thường ở đình, đền, miếu và từ đường, lăng mộ thì bầu Hậu Thần, ở chùa thì bầu Hậu Phật… Ngoài ra trong các bia Hậu còn thấy nhắc đến các hình thức khác như bầu: Phúc Thần, Á Phúc Thần (như bia “Đới đức bi ký” dựng ở đình xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, ghi việc ông Trần Đình Ngọc tước ban Quận công, quyền Tham quốc chính, địa vị sang trọng hiển hách có lòng thương dân. Vào năm Quý Tỵ và Tân Sửu hạn hán, ông cấp cho dân 500 quan tiền cổ, 9.000 bát thóc. Vào năm Mậu Tuất, cạnh thôn có ngôi chùa lâu ngày đổ nát ông đã cho dựng lại, lại bỏ tiền của công đức và cấp thêm 3 mẫu 1 sào ruộng để dân dùng vào việc thờ cúng. Năm Đinh Mùi, ông lại xây mới ngôi đình 7 gian 2 chái, cấp 3 mẫu ruộng làm ruộng thờ tự. Do đó, dân xã đã nhớ đến công đức lớn lao của ông mà bầu bố mẹ và ông làm Á Phúc Thần quanh năm hương hỏa.

Đồng thời việc bầu Hậu còn có các hình thức bầu Hậu Hiền, Hậu Phường, Hậu Tự, Hậu Kỵ, thậm chí có người còn được bầu làm Thành hoàng làng (như bia Khánh Thọ, dựng ở đền xã Xuân Phú, huyện Yên Dũng, tạo năm Chính Hoà thứ nhất (1680) ghi lại việc: Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Cai quan, Tham đốc Khánh quận công Hà Công Dong, người xã Chu Liệt, châu Văn Lãng, xứ Lạng Sơn, quê mẹ ở Mỹ Cầu có công phò vua giúp chúa, được mọi người trong họ ngoài làng yêu mến. Nay ông cho bản xã sử tiền 100 quan, ruộng sản lượng 100 gánh, đồ thờ đầy đủ, bản xã cùng các bậc trên dưới bầu trưởng quan và quận phu nhân Hoàng Thị Ngọc Thái làm Thành hoàng làng, hương hoả lưu truyền đến vạn đời.

Việc mua Hậu có thể thực hiện ở nhiều nơi, có người mua hậu tại đình, chùa, đền, miếu, có người mua Hậu tại bản thôn, bản tộc… Số tiền cúng Hậu (mua Hậu) sẽ được dùng vào giải quyết các công việc chung của làng như: Tu bổ đình chùa; đắp đê, xây cầu, làm đường, lập chợ, đào ao hồ, khơi thông sông ngòi, giải quyết việc thuế khoá nợ đọng, trả tiền quan dịch, giải quyết việc tranh chấp kiện tụng… Số ruộng công đức ấy sẽ đem chia cho một số người hoặc các giáp trong làng cùng nhau luân phiên nhau cày cấy, số hoa lợi sẽ được dùng vào việc khánh tiết, giỗ chạp, cúng tế ở địa phương và tế tự cho người cúng Hậu hoặc mua Hậu. Sau khi nhận tiền, ruộng của người mua Hậu hoặc xin được bầu Hậu, làng hay đình, chùa… sẽ làm tờ ký kết kê khai họ tên những người mua hậu hoặc xin đựơc bầu Hậu cùng với số tiền và ruộng đất những người đó đã công đức. Sau đó người cúng Hậu sẽ được khắc bia lưu danh hậu thế tại đình, chùa, miếu. Việc dựng bia có thể được tiến hành đồng thời với việc bầu Hậu hoặc sau đó một vài năm. Ngoài việc dựng bia, người được bầu Hậu có khi còn được tạc tượng thờ ở đình hoặc chùa để thể hiện sự tôn quý sâu sắc của người dân địa phương với công lao to lớn của người được bầu Hậu. Bia “Tự Hậu bi ký” dựng ở chùa xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam tạo năm Thành Thái thứ 10 (1898) ghi lại việc: Các hương trưởng lý dịch xã Nghĩa Phương, huyện Lục Ngạn, phủ Lạng Giang cùng các bậc trên dưới lập bia Hậu. Nguyên do chùa của bản xã đổ nát, cần phải sửa chữa. Xét thấy phải chi phí khá nhiều, bà Phan Thị đã dấy lòng bồ đề  quyên góp tiền 70 đồng giao cho bản thôn lo chi phí. Vì vậy dân xã đã nhất nhất thuận tình bầu chồng đã mất và bản thân bà làm Hậu Phật. Bản xã tạc tượng 2 vị đặt ở bên phải tiền đường. Từ sau khi bầu Hậu, những người được bầu Hậu sẽ được hưởng sự báo đáp của dân làng. Khi họ còn sống được làng mang lễ đến nhà biếu mỗi khi làng có các tiết lễ chạp. Lễ biếu trong các tiết ấy thường là mâm xôi, rượu, hoa trái, trầu cau. Khi họ mất đi làng sẽ phải thờ cúng họ quanh năm theo định lệ. Mỗi năm đến ngày giỗ Hậu, dân làng hay bản tộc phải chuẩn bị một lễ gồm có đủ thủ lợn, thịt gà, xôi oản, rượu, hoa trái, vàng mã … theo như lệ định ghi trong văn bia làm lễ cúng giỗ.

Với những đặc ân được hưởng sau khi mất của người cúng Hậu đã thực sự có sức hấp dẫn đối với tâm lý của người Việt cũng như người phương Đông nói chung. Bởi lẽ sự tồn tại của con người chỉ là hữu hạn nên người ta lo lắng cho bản thân sau khi mất đi không có người hương khói là điều đương nhiên. Nếu được cả làng thờ cúng trong đình chùa thì họ hoàn toàn yên tâm dốc hết tâm sức, tài sản của mình công đức vào những việc chung của đình chùa vì đây chính là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lớn của cả làng.

Đến đầu thế kỷ XX, đặc biệt sau cách mạng tháng Támvà cải cách ruộng đất, cùng với những biến động lớn của xã hội cũng như nhiều sinh hoạt văn hoá khác của đời sống tâm linh, tục cúng Hậu không còn những cơ sở về vật chất cũng như về tinh thần của xã hội. Vì vậy nó tạm thời chìm lắng và ẩn mình trong những di sản còn sót lại của nền văn hoá thời phong kiến.Tuy nhiên, trong tâm thức người dân việc cúng Hậu, việc cúng giỗ tổ tiên, nương nhờ chốn Thần Phật vẫn còn phát triển nhưng nó được biến đổi với một diện mạo mới cho phù hợp với xu thế chung của xã hội.

Qua khảo sát các tư liệu văn bia còn lại ở Bắc Giang ghi về việc cúng Hậu cho ta một lần nữa khẳng định:

Việc cúng Hậu là một sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng dân gian có ý nghĩa lớn lao về mặt vật chất và tâm linh. Nó nhằm mục đích giúp con người có niềm tin được nương bóng Thần Phật, có được người cúng giỗ khi mình “khuất núi về già”. Đồng thời nâng cao uy tín của bản thân, giúp đỡ dân làng hoặc đình, chùa khi gặp khó khăn. Vì thế, việc bầu Hậu, cúng Hậu của người dân trong xã hội thời phong kiến chủ yếu mang tính tích cực, nó có những đóng góp vô cùng to lớn, thiết thực cho hoạt động của làng xã.

Những người dân có phẩm tước, tiền của sẽ không tiếc tiền, ruộng của mình để công đức mua Hậu hoặc được dân làng bầu Hậu. Bởi họ mong muốn đời đời được thờ cúng sau Thần Phật. Khi đã được bầu Hậu, thì người đó không chỉ được ghi công trạng mà còn được hưởng những quyền lợi vật chất cụ thể ghi trên văn bia. Đó là: Nếu họ còn sống, mỗi khi làng có cúng tế thì họ hoặc người thân sẽ được nhận phần biếu của làng theo quy định. Đây là một sự danh giá đối với bất kỳ cá nhân nào khi được xã hội coi trọng “một miếng giữa làng, hơn một sàng xó bếp”. Còn khi đã mất, vào các ngày giỗ, họ hoặc người thân của mình sẽ được chính nơi nhận sự đóng góp đó tổ chức làm giỗ và vào các ngày tuần tiết được phối hưởng hương khói cùng với Thần Phật. Theo tín ngưỡng của người Việt, đây cũng là một vinh hạnh cho bất kỳ ai và là điều đặc biệt may mắn đối với những người phải sống cô độc, hoặc không có con nối dõi thờ tự.

Nhìn nhận dưới góc độ đạo lý, tục cúng Hậu là một phong tục đẹp mang đậm chất nhân văn sâu sắc của nhân dân trong xã hội xưa. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân người mua Hậu hoặc người được bầu Hậu mà nó còn có ý nghĩa đối với cả cộng đồng xã hội nữa.

Tùng Dương

 

 

;?>