• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4504532
  • Số người đang xem: 32
  • Trong ngày: 663
  • Trong tuần: 35824
  • Trong tháng: 672289
  • Trong năm: 4152309
Trang chủ

Chùa cổ Bổ Đà – danh lam đặc sắc

( 08:57 | 23/03/2015 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Chùa Bổ Đà tên chữ là chùa Tứ Ân, thuộc thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên. Bổ Đà là từ Hán Việt Phổ Đà mà ra và trong tiếng Phạm có nghĩa là Phật – Bụt. Với ý nghĩa đó, danh thắng Bổ Đà là nơi phong cảnh đẹp gắn liền với đạo Phật và tích Phật.

Ngôi chùa là một quần thể kiến trúc hài hòa ngoạn mục và là một danh lam thắng tích có hạng, tọa lạc ở phía Bắc dãy núi Phượng Hoàng, thuộc dãy Bổ Đà sơn. Dãy núi Bổ Đà đột khởi giữa vùng đồng bằng phẳng lặng tạo nên một cảnh quan tươi đẹp cho cả vùng. Đến thăm danh thắng Bổ Đà là đến thăm cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây núi sông bao quanh vòng ôm lấy nhau, một chốn sơn thủy hữu tình. Không gian chùa Bổ Đà thoáng đãng, đẹp đẽ mà thanh tịnh, quanh năm vút tiếng thông reo trong gió, tiếng xào xạc của bờ tre, tiếng cúc cu êm đềm của chim cu gáy.

Tiền đường chùa Bổ Đà. Ảnh Hương Quỳnh

Trung tâm Phật giáo Bổ Đà được xây dựng vào thế kỷ 17, với tổng diện tích 51.784m2 và chia làm 3 khu: Khu vườn tháp được xây tường đất kè đá với 87 ngọn bảo tháp; khu vườn chùa xung quanh có đào hào rộng vừa để thoát nước vừa để ngăn cách bảo vệ; khu nội tự gồm 16 tòa nhà lớn nhỏ với tổng số 92 gian được bố trí lần lượt từ cổng vào. Tất cả các công trình kiến trúc trong khu nội tự được xây dựng, bổ sung qua nhiều thế hệ sư trụ trì. Cùng với các công trình kiến trúc, chùa Bổ Đà còn lưu giữ được nhiều hiện vật, tài liệu quý như hệ thống tượng Phật quy chuẩn, ván khắc, sách kinh, câu đối, đại tự…

Tường đất –  độc đáo riêng chùa Bổ Đà

Điều đầu tiên khiến ai cũng ngỡ ngàng, ấn tượng khi đặt chân đến với quần thể di tích này là những dải tường bằng đất xù xì, rêu phong ở hai bên cổng và bao bọc quanh khuôn viên chùa. Tường đất ở chùa Bổ Đà được trìnhbằng loại đất sỏi son ở núi Bổ Đà. Đất được trộn với nước vừa đủ độ ẩm, người ta dùng những khuôn gỗ để dồn đất vào đó sau đó trình theo thứ tự từ thấp đến cao để tạo ra những bức tường đất. Tường đất chùa Bổ Đà có độ cao từ 1,8m đến 3m, chân tường dày 0,8 m, đỉnh tường dày 0,4 m. Trên đỉnh tường có mõ, tường được che bằng các mảnh gốm chum vại Thổ Hà. Trải qua thời gian, mái và sườn tường đã ngả màu nâu xám, rêu xanh bám vào càng làm tăng thêm vẻ cổ kính của ngôi chùa. Đặc biệt, vùng này có nhiều đá, nhưng những dải tường của ngôi chùa vẫn được đắp bằng đất, ngoại trừ một số đoạn bị sạt lở nên được tu sửa bằng gạch đá, xi măng. Vì có những dải tường bằng đất nên mùa đông có tác dụng chắn gió, mùa hè lại mát mẻ. Bước chân vào tới cổng chùa, đi giữa hai dải tường đât, giữa những tiếng vi vu của rặng tre, hàng thông, tiếng ngân nga của chuông chùa, lòng du khách như thanh thoát nhẹ nhàng.

Nét độc đáo tường đất, lối dẫn vào chùa Bổ Đà. Ảnh Hương Quỳnh

Kiến trúc nghệ thuật của khu nội tự chùa

Kiến trúc chùa Bổ Đà không giống với bất kỳ ngôi chùa truyền thống nào ở miền Bắc Việt Nam, lối kiển trúc kiểu “Nội thông ngoại bế’, không quan trọng ở sự nguy nga tráng lệ mà quan tâm tới sự liên hoàn, thoáng đạt. Bước chân vào cổng chùa là nền đá muối có kích thước to nhỏ khác nhau. Cổng chùa được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn mang dáng dấp gác chuông. Tiếp đến là nhà bếp gồm 4 gian lợp ngói tường xây gạch. Từ nhà bếp đến nhà để dụng cụ gồm 7 gian lợp ngói, kết cấu kèo kìm đơn giản. Nhà tòa soạn gồm 7 gian, tường lợp ngói nền lát gạch vuông, kết cấu vững chắc, phía trước là sân gạch to.

Nhà Tổ ly nằm sau nhà tòa soạn, tường gạch ngói nền lát gạch vuông gồm 7 gian. Nhà tiền tế gồm 5 gian, nhà khung bằng gỗ kiến trúc kiểu chồng giường, tường gạch lợp ngói. Nhà in kinh làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng. Nhà Trai gồm 3 gian tường gạch lớp ngói. Nhà Hành lang dài 7m nối từ nhà trai đến nhà pháp rộng 2,5m. Nhà pháp dài rộng, gồm 7 gian tường gạch lợp ngói, nền lát gạch vuông. Tiếp đến là bể nước được xây sát tường hậu tòa tam Bảo.

Tòa tam bảo kiến trúc theo kiểu chữ đinh, phần hậu dài rộng, gồm 5 gian. Nền nhà cao ba bậc, bậc thềm được lát bằng những phiến đá xanh có kích thước to nhỏ khác nhau. Phía trên là năm bộ cửa bức bàn. Bên cạnh tòa tam bảo còn  dãy hành lang dài rộng, gồm 6 gian.

Nhà khách là nơi hòa thượng ở, gồm bẩy gian, hai gian đầu là lối lên gác kiến, nhà chồng diêm hai tầng mái. Nhà tiếp khách gồm sáu gian, tường gạch lợp ngói, khung nhà bằng tre ngâm. Nhà Ga gồm sáu gian, khung nhà bằng tre ngâm lợp ngói. Nhà dùng để thi hài, làm ma cho các vị sư già quá cố.

Bởi lẽ khu nội tự mang nhiều kiến trúc khác nhau là do được xây dựng qua các thời kỳ khác nhau, nhưng hầu hết đều mang dấu vết của kiến trúc thời Lê-Nguyễn. Từ thời kỳ đầu khởi dựng đến nay, chùa Bổ Đà vẫn nằm nguyên vị trí ban đầu. Không gian thoáng đãng, sân chùa rộng rãi và nối tiếp với nhau tạo nên một quần thể chặt chẽ.

Ngoài công trình kiến trúc độc đáo khu nội tự, bên trong ngôi chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý hiếm. Hệ thống tượng Phật  theo dòng Thiền phái Trúc Lâm, ván khắc, văn bia, sách Kinh Phật, hương án đồ thờ…mang giá trị vô giá cả về lịch sử cũng như văn hóa. Qua các hiện vật, ta hiểu được sự hình thành và phát triển của ngôi chùa.

            Trung tâm Phật giáo – Chùa Bổ Đà

Chùa Bổ Đà là một trong các sơn môn của dòng thiền Lâm Tế ở đồng bằng, hàng năm, kiết hạ an cư có các vị tăng ni tín đồ tham thiền học đạo khá đông. Đây là nơi kế truyền các vị tổ sư khai tràng thuyết pháp đào tạo tăng ni. Chương trình tu tập hàng ngày của các trường hạ không hoàn toàn giống nhau về thời khắc nhưng tựu trung cũng không ngoài việc tọa thiền, kinh hành, tụng kinh sáng, tụng kinh chiều, học tập giáo lý, nghiên cứu kinh điển…

Mùa an cư là thời gian quan trọng nhất trong năm, mỗi mùa an cư là một tuổi đạo của cuộc đời nhà sư. Đây cũng là thời gian thuận tiện cho giới cư sĩ tại gia có dịp thân cận chư tăng học tập giáo pháp, đồng thời là cơ hội tạo phước báo nhân thiên qua việc hộ trì chúng tăng trong suốt mùa an cư.

Hội chùa Bổ Đà hàng năm được tổ chức từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 2 Âm lịch. Đó là ngày giỗ tổ khai sơn lập ra chùa Bổ Đà. Ngoài ra ngày 8 tháng 4 Phật Đản có lễ dâng hương, ngày 15 tháng 7 có lễ tán hạ, khách thập phương về lễ hội chùa rất đông. Trên sân chùa, các đoàn hát biểu diễn liên tục suốt mấy ngày đêm. Rồi những canh hát quan họ, mời trầu, mời nước của các liền anh liền chị làm cho không khí ngày hội thêm vui tươi nhộn nhịp.

Trung tâm Phật giáo chùa Bổ Đà không những gắn bó máu thịt với tăng ni phật tử ở chùa mà còn là nơi chứng kiến và diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của quê hương, đất nước. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, chùa Bổ Đà là địa điểm làm việc chế tạo vũ khí của xưởng quân giới… Năm 1960, nhà chùa đã sung 50 mẫu ruộng, trâu bò và nhiều tài sản khác vào hợp tác xã nông nghiệp.

Vườn tháp Bổ Đà, Vườn tháp lớn nhất Việt Nam

Vườn tháp chùa Bổ Đà nơi tàng lưu xá lị, tro cốt nhục thân của các tăng ni dòng Thiền Lâm Tế nằm ở bên trái khu nội tự và vườn chùa. Đó là bãi đất nằm nghiêng theo độ cao của dải núi Bổ Đà, có diện tích gần 8 nghìn m2. Bao quanh vườn tháp nhà chùa đã dùng đá núi, gạch chỉ và đất thó tạo nên bức tường thành để giữ gìn yên giấc ngủ ngàn thu cho các nhà tu hành đắc đạo. Khu nội viên có thảm cỏ xanh bản địa và những bụi hoa sim mua hoang dại cho vườn tháp thêm cảnh sắc thiên nhiên.

Vườn tháp chùa Bổ Đà. Ảnh Hương Quỳnh

Trải quan gần 300 năm kể từ khi sư tổ Phạm Kim Hưng cho tu bổ lần đầu tiên đến nay, chùa Bổ Đà có tất cả 97 ngôi bảo tháp lớn nhỏ. Đặc biệt có ngôi tháp an táng tới 26 nhà sư. Họ đều là anh em cùng sơn môn, cùng tu một thầy, quý mến nhau muốn khi được về nơi tịch diệt vẫn được nằm cạnh nhau.

Một điều đặc biệt nữa mà du khách được chiêm bái ở vườn tháp chùa Bổ Đà, đó là khu vườn tháp có cả sư tăng và sư ni, điều hiếm thấy ở các dòng thiền phái khác. Các ngôi bảo tháp đều được kiến tạo bằng đá, gạch chỉ và bít mạch bằng vôi vữa trộn với mật mía và bột giấy bản. Đa số các ngôi bảo tháp đều có tên nhưng do lâu năm nên nét chữ đã mờ phai nhiều. Trong lòng tháp thường có bia ghi bài vị và ghi thời gian sinh, hóa của các nhà sư. Vì vậy mỗi ngôi bảo tháp là những nguồn tư liệu chân thực giúp thế hệ sau này hiểu sâu sắc hơn về Thiền phái Lâm Tế nói chung và lịch sử chùa Bổ Đà nói riêng.

Bộ mộc bản chùa Bổ Đà

Kho mộc bản kinh Phật nằm ở khu hậu viện của chùa, với mục đích muốn lưu truyền cho đời sau, vừa dùng làm phương tiện truyền dạy Phật pháp cho các môn đồ. Kho mộc bản kinh Phật ở đây được khắc từ năm 1740 đời vua Lê Cảnh Hưng (số năm được khắc trên ván kinh), còn bản sách kinh cuối cùng được khắc năm nào thì chưa rõ, nhưng trải qua ba thế kỷ những bộ mộc bản kinh vẫn giữ nguyên vẹn về hình thái; những hoa văn, chữ nổi trên ván kinh bằng gỗ thị vẫn còn rất sắc nét, không hề bị mối mọt. Không chỉ có văn tự, những nghệ nhân rất tài hoa khi xưa đã chạm, khắc lên những ván gỗ nhiều hình ảnh tinh xảo. Bên cạnh chốn tổ Vĩnh Nghiêm ở Yên Dũng, có thể nói sơn môn Bổ Đà là chốn tổ, trung tâm Phật giáo lớn thứ hai ở Bắc Giang, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá và duy trì phát triển đạo Phật mà thiền phái Lâm Tế là chủ đạo. Do ảnh hưởng của thiền phái Lâm Tế nên các nhà sư đã cho khắc những bộ kinh đi sâu nghiên cứu về thiền. Dù thể hiện những giáo lý và tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ nhưng những ván kinh do được khắc ở Việt Nam, bởi những bàn tay của người Việt nên mang dấu ấn Việt khá rõ qua các hoa văn, họa tiết trang trí, trong nhiều bản kinh thể hiện triết lý gắn bó giữa đạo và đời.

Minh Trang

 

 

 

;?>