• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4490845
  • Số người đang xem: 25
  • Trong ngày: 5505
  • Trong tuần: 22137
  • Trong tháng: 658602
  • Trong năm: 4138622
Trang chủ

Tìm về hát ống Liên Chung

( 10:34 | 13/04/2015 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Hát ống, lối hát độc đáo mà tha thiết, mộc mạc mà không kém phần tinh tế đã ăn sâu vào đời sống tinh thần, gắn bó với mọi sinh hoạt đời thường của bà con làng Hậu, xã Liên Chung (huyện miền núi Tân Yên, Bắc Giang). Ở đấy, tiếng hát dân ca dường như là bài thuốc giúp mọi người lao động quên đi bao mệt nhọc, buồn phiền…

Liên Chung xưa được gọi là Chung Sơn (núi hình chuông) thuộc Tổng Tuy Lộc Sơn của miền Yên Thế hạ. Các làng Hậu, Hương, Nguộn, Sấu, Bến, Lãn Tranh, Liên Bộ ở quây quần quanh ngọn núi Dành hình chuông như những cánh hoa sen. Vì vậy mà gọi là Liên Chung. Người già vẫn thường kể vậy. Nơi đây phong cảnh hữu tình với sông Thương thơ mộng, với chùa Không Bụt, đình Vường cổ kính. Sâm Nam núi Dành tiến vua nổi tiếng, hành tỏi, tương, nem chua là những sản vật quý của nơi này. Hát ống, hát ví là viên ngọc sáng trong những di sản  tinh thần mà cha ông để lại.

Trên sân đình hoặc trên những con ngõ dài trong xóm vào những đêm trăng sáng sau mùa cấy, mùa gặt xuất hiện từng tốp nam nữ đứng xa nhau, mỗi người cầm một cái ống tre hát cho nhau nghe. Người hát thì ghé ống vào miệng mình, còn người nghe đưa ống lên tai. Chiếc ống tre được bịt một đầu bằng da ếch, giữa có một lỗ nhỏ đủ cho dây đi qua. Một chiếc kim khâu nhỏ nằm ngang giữ thăng bằng cho dây đặt sát mặt trong miếng da ếch. Sợi dây dài chừng vài chục mét nối hai cái ống với nhau, tùy theo cự li đứng xa hay gần mà nối dây. Tiếng hát truyền qua sợi dây ấy. Những nghệ nhân hát ống cho hay, ống hát phải làm bằng tre ngà, dai và cứng. Cái kim khâu bên trong sẽ giúp dây (bằng tơ tằm, hay cước) thẳng căng mà không chạm vào mặt trống. Lời hát truyền qua ống, mặt da rung, dây rung… và kết quả là người ta nghe được nhau hát gì. Cung cách hát như vậy là báu vật truyền đời của vùng đất Liên Chung. Cũng nhờ tiếng hát mà mùa xuân như dài hơn, tiếng hát dường như không biết mỏi… Hát cho phải yêu nhau, hay ít ra cũng “tỏ mặt rõ lòng”. Nhiều đôi trai gái lấy được nhau nhờ vào hát ống…

Hát ống Liên Chung. Ảnh: Mai Phương 

Trai gái bây giờ không tìm hiểu nhau qua hát ống mà nghệ thuật hát ống được vận dụng linh hoạt trong đời sống. Hiện nay, Câu lạc bộ hát ống, hát ví với gần 40 thành viên hoạt động rất tích cực, đi biểu diễn nhiều nơi, thu hút sự quan tâm của truyền thông cũng như cộng đồng dân cư xa gần.  Mỗi dịp sinh hoạt tập thể  hay họp tổ xóm hàng tuần, hàng tháng các cô chú, anh chị lại khăn áo lượt là đi hát.  Khi hát, đàn ông mặc quần áo nâu sồng, đầu chít khăn thắt múi củ hành. Đàn bà, con gái mặc quần lụa áo tứ thân, thắt dây bao xanh, vấn tóc. Lối ăn mặc ấy của các cụ ngày xưa. Đấy là hát ống, hát trong không gian vui chơi, giao duyên, hò hẹn. Còn hát ví thì không cầu kỳ trang phục, có thể là hát ví khi đang gặt lúa, cắt cỏ, lội sông, chèo thuyền, đánh cá…

  Làng Hậu là cái nôi hát ống, hát ví. Những làng khác trong xã cũng hát song không phổ biến. Các cụ cao niên kể rằng, ngày xưa, trong xã hội phong kiến, “trai gái thụ thụ bất thân”, lề lối sinh hoạt nghiêm khắc nên họ muốn giãi bày tâm tư, hò hẹn nhau bèn gửi qua câu hát. Nếu hát, đứng xa không nghe thấy được, bà con đã sáng tạo ra những chiếc ống tre có tác dụng truyền âm như điện thoại mà nghe tiếng lòng nhau…Đàn ông là người làm ống tre và đi tìm người khác giới làm bạn hát của mình. Vì thế mà có hát ống truyền lại đến ngày nay. Những lời hát rất tình tứ:

“Ước gì tình sánh với tình

Ước gì cành cúc cành quỳnh sánh đôi

Ước gì quế sánh với hồi

Ấy người thục nữ sánh người trượng phu”

 Hay:  “Hỡi cô đứng ở đình ngang

 Có muốn hát ống thì sang bên này”…

Người nam hát:

“ Buồn trông con nhện chăng tơ

Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai?

Người nữ đáp:

“ Thân em như dải lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?...”

Chỉ chờ có thế, người nam hát tiếp: “Gặp đây mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Người nữ, nếu ưng ý hò hẹn thì đáp: “Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Cứ như vậy, cuộc hát kéo dài không dứt. Lời hát ý nhị, đằm thắm. Người trong làng còn kể mãi chuyện vợ chồng nên duyên nhờ hát ống của anh Trương, chị Khéo. Nghệ nhân Nguyễn Thị Khéo đi hát từ thủa mới lớn, giờ đây, chị là một trong những thành viên trụ cột của Câu lạc bộ. Chị cho biết : “hát ống và hát ví không tách rời nhau, lời hát ống cũng là lời hát ví, nhưng hát ví thì linh hoạt hơn, có thể hát bất kể đâu mà không cần ống. Hết hát đối đáp thì hát đố nhau. Hát đố phải có các phường hát thi thố cùng nhau. Thường là tốp nam thi cùng tốp nữ”. Vì thế mà lời hát được người dân tự sáng tạo đầy lên mỗi ngày. Thảo nào trong lời hát có đủ các con vật  và dụng cụ gắn với nhà nông.  Tuổi thơ của chị em tôi cũng được “tắm” trong những làn điệu dân ca ấy, bởi bà nội tôi là người làng Hậu, bà hát thuộc hàng trăm bài, có những bài mang âm hưởng chế giễu, trêu chọc rất hài hước.  

  Các  bà các mẹ nói rằng, nếu hát ống diễn ra ở sân đình, cổng làng thì hát ví có thể diễn ra trên đồng, dưới ao, trên núi… Trong hát ví có hát ví lẻ, ví vặtví cuộc. Riêng ví cuộc là hát hội, có trao thưởng. Cuộc hát chia thành ba giai đoạn: hát chào hỏi; hát trao duyên – nguyện ước và hát tiễn- dặn. Mỗi cuộc hát chia thành nhiều chặng hết sức hấp dẫn tình tứ. Cuộc hát có thể kéo dài suốt đêm hoặc đến mấy ngày. Bên thua hay thắng đều vui, hào hứng bắt tay vào lao động sản xuất. Tiếng cười và lòng yêu cuộc sống làm cho tình làng nghĩa xóm ngày càng bền chặt.  Nghệ thuật hát ống, hát ví không phải là nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu, mà nghệ thuật đó diễn ra trên đồng ruộng, sân đình, trong sinh hoạt đời thường. Thế nên, các cụ có khi còn gọi hát ví là hát đi cấy, hát vơ cỏ…

Hãy chứng kiến cảnh hát ví vặt. Người nam nhìn thấy người  nữ mà mình vốn có tình ý đang cắt cỏ thì cất tiếng: “Mặt trời đã xế về Tây/ Cô kia cắt cỏ bên đầy bên vơi/ Cô còn cắt nữa hay thôi?/ Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng”. Nếu cô gái hiền lành, chấp nhận lời tỏ tình của chàng trai thì đáp:“Cắt được thì em trả công/ Có đâu dám kết vợ chồng hỡi anh/ Lại đây cùng cắt cỏ xanh/ Ấy là trước lạ sau thành người quen”. Nếu là cô gái chua ngoa, từ chối thẳng thừng lời dạm hỏi thì đáp: “Cắt được thì đây trả công/ Mặt ấy không đáng làm chồng chị đây…”. Hai người làm ruộng gần nhau cũng có cách tỏ bày tình cảm:“Bây giờ bóng đã về trưa/ Em cấy ruộng dưới anh bừa ruộng trên/ Bây giờ anh xuống, em lên/ Để cho hai ruộng tháo liền với nhau”. Hai ruộng làm một thì hai người chắc chắn về ở một nhà thành đôi chồng vợ.

Có những đôi yêu nhau mà lỡ duyên, người con gái đi lấy chồng, có dịp gặp lại, người nam hát: “Băng mình qua bụi gai mây/ Liệu mà gỡ được ra đây anh  chờ”. Người nữ đáp: “Gai mây khó gỡ ai ơi/ Chờ nhau hỏi biết đến đời nào đây”. Hát ống, hát ví không chỉ đơn thuần là dân ca nữa, nó đã giúp người ta nói được những điều khó diễn tả thành lời. 

Ông Nguyễn Vân Đài, nghệ nhân hát ống 74 tuổi cho hay: Những lời hát thường mang âm hưởng ca dao, dễ thuộc, dễ nhớ, nói về tất cả những sự việc hay hoạt động đời thường gắn với người nông dân. Bản thân ông đã có công sưu tầm và truyền dạy hàng trăm bài hát cho mọi người. Hát ống, hát ví đã bị mai một, vắng bóng từ những năm 70 của thế kỷ XX, cho đến những năm gần đây lại được hồi sinh mạnh mẽ. Các cháu nhỏ cũng đã học lại cách hát của cha ông.

Mùa xuân ở Liên Chung tươi đẹp hơn, ấm áp hơn từ những lời hát dân ca ấy…

Mai Phương

 

 

;?>