• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3593171
  • Số người đang xem: 21
  • Trong ngày: 4289
  • Trong tuần: 4289
  • Trong tháng: 297655
  • Trong năm: 3240948
Trang chủ

Bắc Giang, nơi hai vua một chúa lánh nạn

( 16:17 | 04/11/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Theo “Hoàng Lê nhất thống chí”, “Đại Nam nhất thống chí” và “Bắc Giang địa chí” của Trịnh Như Tấu xuất bản năm 1937 thì Bắc Giang là nơi lánh nạn của hai vua và một chúa: vua Lê Chiêu Thống, chúa Trịnh và vua Hàm Nghi.

Ngày xưa, Bắc Giang là nơi đất rộng người thưa, rừng núi mênh mông hiểm trở, lại có nhiều làng, nhiều người có quan hệ mật thiết với nhà Lê, nhà Nguyễn, nên khi thất thế các vua chúa đều tìm đường lên Bắc Giang lánh nạn.

Phải nói rằng, cho đến khi Pháp xâm lược nước ta thì Bắc Giang cơ bản vẫn là miền rừng. Theo dân gian kể, khi Pháp mở đường sắt Bắc Giang - Lạng Sơn năm 1892, tại Mỏ Thổ cách Phủ Lạng Thương (nay là thành phố Bắc Giang) 5km vẫn còn rừng và vẫn có hổ về bắt lợn. Theo “Bắc Giang địa chí” thì những năm 30 của thế kỷ XX Bắc Giang có tới 13 khu rừng do Sở Kiểm Lâm quản lý, tổng cộng 42.511 ha, chiếm gần 1/5 diện tích tỉnh Bắc Giang. Nếu tính cả rừng đang cần bảo vệ và rừng tự nhiên chưa cần bảo vệ ở Lục Ngạn, Sơn Động thì thời đó diện tích rừng của Bắc Giang chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh.

Về dân số:

Theo “Đại Nam nhất thống chí” năm Gia Long thứ 18, tỉnh Bắc Ninh cũ (gồm cả Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay) mới chỉ có 43.900 suất đinh. Theo “Bắc Giang địa chí” qua điều tra dân số năm 1931, dân số Bắc Giang chưa đầy 30 vạn người.

Những tài liệu trên cho biết: Khi Quang Trung kéo quân ra Bắc lần thứ nhất, Vua Lê đã cho gia tộc sơ tán về Bắc Giang, trú ngụ ở Trí Yên, Yên Dũng - một vùng quê hẻo lánh giáp sông Lục Nam, bên kia là vùng núi Côn Sơn. Sau đó, vợ con Vua và một số thân tín tìm đường lên Mai Siu - một nơi rừng núi hẻo lánh nhất của Lục Nam, giáp với rừng núi Yên Tử của Quảng Ninh. Riêng vua Lê Chiêu Thống về sau mới bỏ trốn khỏi kinh thành. Lên đến Bắc Giang, bị quân Tây Sơn đuổi theo, Vua phải trú ở núi Tam Tầng (bên bờ bắc sông Cầu) một đêm, về sau được đưa lên đất Yên Thế, rồi tìm đường tắt sang Trung Quốc. Khi 20 vạn quân Thanh vào nước ta, bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác, Vua đành ở lại đất khách cho đến khi qua đời.

Đọc hồi ký của Trung tướng Lư Giang (nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô) ta được biết thêm: ông tên thật là Lê Giang. Ông thừa nhận, ông chính thức là hậu duệ của vua Lê, gia tộc ông nhiều đời đã và đang sinh sống tại Mai Siu, Lục Nam.

Cũng khi Quang Trung kéo quân ra Bắc, chúa Trịnh đem gia tộc chạy lên Bắc Giang. Bị quân Tây Sơn đuổi gấp và truy bắt, anh em con cháu nhà Trịnh mỗi người phiêu dạt một phương. Một con của chúa Trịnh lưu lại được ở Thọ Xương (thành phố Bắc Giang ngày nay) về sau phát triển thành một họ lớn ở đây.

Về vua Hàm Nghi, cuốn “ Bắc Giang địa chí” cho biết:

Ở Bắc Giang có một người tên là Thân Đức Luận - tức Thống Luận. Ông con một cai tổng có công dẹp giặc, nên được đưa vào làm quản dõng ở thành Bắc Ninh. Quan tổng đốc Bắc Ninh là Tôn Thất Thuyết. Thống Luận được Tôn Thất Thuyết cử cầm quân đánh dẹp giặc Tàu do Lý Lương Tài cầm đầu sang cướp phá, sau đó được phong Chánh Quản, đóng ở đồn Ái Mộ. Khi Pháp đánh được thành Hà Nội, diệt đồn Ái Mộ (Gia Lâm) và hạ thành Bắc Ninh (do Trương Đăng Đản làm Tổng đốc) Thống Luận và Tổng đốc chạy lên Nhã Nam. Về sau, Tổng đốc giao lại binh quyền cho Thống Luận rồi bỏ trốn.

Nhận được mật lệnh của Đô thống Trần Soạn (trước là cấp trên của Thống Luận) Thống Luận đem quân đi Văn Bàn, giúp Ai Lao để hộ giá vua Hàm Nghi  và Tôn Thất Thuyết lên Cao Bằng. Sau đó, Vua và quân kéo về Phố Toóng (Thuộc dãy núi giáp ranh giữa Bắc Giang và Lạng Sơn). Ở đây có đồn của Hoàng Đình Kinh (tức Cai Kinh) một mệnh quan của triều đình, quê Thanh Hóa vẫn đang đóng giữ. Giặc Pháp tiến đánh đồn hai lần, đều bị Thống Luận cầm quân đánh bại. Vua phong cho Thống Luận giữ chức Thống Xuất ngũ quân Đề Đốc. Sau hai tháng, Vua quan lại kéo nhau lên Bảo Lạc, Cao Bằng rồi sang Quảng Tây, Trung Quốc Cai Kinh vẫn ở lại đánh Pháp đến cùng. Đến châu Quảng Thuận, Thống Luận ở lại hộ giá vua, còn Tôn Thất Thuyết đi cầu cứu viện binh của Tàu nhưng không thành và chết ở Long Châu. Sau đó, Vua bỏ hết quan quân ở lại, chỉ có hai trưởng vệ và Thống Luận cùng bản bộ đi theo. Về đến châu Thập Lục thì quân Pháp bắt được vua, Thống Luận đem tàn quân chạy về Yên Thế và Tam Đảo (Thái Nguyên) ẩn náu 13, 14 năm. Thấy tình thế không trụ được lâu, chỉ “toàn dân hại vật”, năm 1995 Tổng đốc Lê Hoan chiêu dụ, Thống Luận đem 150 quân ra hàng. Pháp cho ông làm Đề Đốc Thái Nguyên, kiêm quản đạo Nhã Nam nhưng ông không nhận. Ông về Dương Huy (Dương Sơn, Tân Yên ngày nay) chiêu dân khẩu điều, yên nghiệp làm ăn.

Qua tư liệu trên, mọi người được biết thêm: Tôn Thất Thuyết không phải chỉ “cõng” vua Hàm Nghi (9 tuổi) ra Hương Khê, Hà Tĩnh để mưu sự Cần Vương mà còn đem Vua sang tận Tàu cầu viện nhưng không thành.

Đỗ Văn Thái

;?>