• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3217712
  • Số người đang xem: 30
  • Trong ngày: 870
  • Trong tuần: 6836
  • Trong tháng: 1233570
  • Trong năm: 2865489
Trang chủ

Nữ sĩ Anh Thơ – Thơ và đời

( 16:30 | 04/11/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Nữ sĩ Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân, sinh năm 1921 (trong Thi nhân Việt Nam ghi là 1919) tại thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình có truyền thống Nho học. Năm mười hai tuổi, Anh Thơ được bố đưa về quê nội ở thị xã Phủ Lạng Thương, bên bờ con sông Thương hiền hòa, thơ mộng. Từ đây, con đường thi ca của nữ sĩ bắt đầu kết nhụy đơm hoa.

Dù rất mê làm thơ nhưng bà bị thân phụ cấm một cách gắt gao, quyết liệt. Năm mười hai tuổi, sau khi nghỉ học, là chị cả trong gia đình nên bà phải trợ giúp bố mẹ mọi việc, giúp mẹ chăm sóc đàn em. Công việc mà bà yêu thích đó là  mỗi sáng đi chợ, qua đường cái quan trải đá, có hoa phù dung nở trắng tường gạch, rồi những hàng tre và một cánh đồng thẳng tắp trước khi dẫn đến chợ, những hình ảnh thật trữ tình và thơ mộng chân chất thôn quê ấy luôn ám ảnh trong tâm trí của bà. Trong nhiều tự sự bà nói rằng tuổi thơ của mình đã được may mắn gắn liền với ruộng đồng, sông nước quê hương, lại được nuôi dưỡng trong gia đình yêu thi phú, âm nhạc. Người có ảnh hưởng lớn đến tâm hồn thơ ca của mình đó chính là ông ngoại. Ông của bà vốn là một Phó bảng gốc Sơn Tây, được bổ làm Đốc học Bắc Giang.

Vì ghét Tây, cụ xin về hưu, đi lập ấp ở làng Lát thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Bề ngoài mộ dân lập ấp khai hoang, nhưng bên trong mưu đồ làm hậu cần cho nghĩa quân Đề Thám. Sau vụ đánh thuốc độc sĩ quan Pháp ở Hà Nội bị lộ, cụ Đề Thám lánh về ấp Lát một đêm. Ông ngoại bà có làm thơ an ủi Đề Thám. Ông cụ cũng làm nhiều thơ bày tỏ nỗi lòng của mình trước vận nước, thơ về đạo làm người. Một nguồn cảm hứng nữa để bà quyết chí theo nghiệp văn chương đó là qua người cô ruột của mình. Cô bà đẹp người, học lớp nhì, biết tiếng Pháp, thích đánh đàn và làm thơ. Lúc rỗi rãi bà hay lục sách của cô ra đọc. Từ "Tái sinh duyên", "Đông Chu liệt quốc", "Song phượng kỳ duyên"..., đến "Kiều", "Lục Vân Tiên", "Chinh phụ ngâm", thơ Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan và nhất là thơ tả cảnh của Nguyễn Khuyến. Bà cũng trộm đọc của bố tập "Văn đàn bảo giám", thuộc lòng từ thơ Lê Thánh Tông đến các nhà thơ Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Mỗi khi đọc, nghiên cứu các thi tập, bà luôn chú ý đến bảng luật bằng, trắc và cách bố cục của bài thơ bát cú Đường luật. Những bài thơ đầu tiên của bà đã ra đời theo kiểu này. Ban đầu nội dung còn chưa theo trật tự nhất định, hết làm thơ "nói chí" theo cách của bố, đến viết trường ca về chuyện con vua Hùng dong buồm gấm rong ruổi đầu non cuối bể, hoặc chuyện chàng Trương Chi bị Mỵ Nương chê xấu...

Vào khoảng năm 16 - 17 tuổi, một hôm bố bà mua về tờ báo "Phong hóa" có đăng bài thơ của Thế Lữ:

Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát.

Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời.

Gió nồng gieo trên hồ sen rào rạt.

Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!...

Càng đọc càng thích cái âm điệu thiết tha, cái không khí náo nức, mà tự nhiên, trong sáng, khác với cái nghiêm trang, nặng nề của thơ Đường luật. Rồi đến những bài thơ tình nồng nàn, cháy bỏng của Xuân Diệu, thơ tả cảnh của Huy Cận, thơ về xứ Hời đau xót của Chế Lan Viên, thơ về cảnh xưa người cũ của Nguyễn Nhược Pháp... Bà đã chuyển sang làm "Thơ mới" từ đó. Bà năm khoăn tự hỏi, viết gì để khỏi trùng lặp các nhà thơ trên. Rồi dần ý thức lối đi riêng cho mình bằng những bài thơ tả cảnh về bộ tranh tứ quý trong phòng mẹ , đến cảnh làng mạc, ruộng đồng, sông nước quê hương…

Năm 1941, Báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tổ chức cuộc thi thơ. Và "Bức tranh quê" - đứa con đầu tiên của bà đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Theo bà, tập thơ là tất cả vốn liếng tuổi thơ của mình. Dù viết vội vàng, chưa nắm kỹ thuật nhưng bà đã viết nó bằng xúc cảm trung thực, hồn nhiên như cảnh vật nơi mình đã sống. Cảnh vật vui, nữ sĩ vui. Cảnh vật buồn, nữ sĩ buồn. Nhà thơ với cảnh vật là một. Về phần mình, hình thức thơ ca của Bức tranh quê là ở ngoài cái mạch thông thường. Không còn những bài thơ hoàn chỉnh, với những câu đề câu thực câu luận nối nhau chặt chẽ, không còn một sự đăng đối cầu kỳ tỉ mẩn dò dẫm đọc lên vừa thú vị vừa bực mình của những bài thơ làm theo Đường luật, Anh Thơ hầu như không biết đến sự ràng buộc ấy. Thơ tám chữ trong Bức tranh quê có ý nghĩa như một sự giải phóng. Một chỗ mới quan trọng khác của Bức tranh quê là ở con mắt nhìn hiện thực. Trước Anh Thơ đã có nhiều nhà thơ Việt Nam viết theo lối tả thực. Khi nói về những người mà mình có đọc trước khi làm thơ, Anh Thơ có nhắc đến Bà Huyện Thanh Quan, đến Nguyễn Khuyến với ngõ trúc, song thưa, ao thu lạnh lẽo. Thế nhưng, hãy đọc lại Bức tranh quê để bắt gặp những chi tiết phải nhận là lạ. Thiên nhiên trong thơ bà là những thứ rất mộc mạc, dân giã và quê mùa, nó là tất cả những gì như máu thịt gắn liền với tuổi thơ của bất kỳ một cô bé, hay cậu bé chăn trâu nào… đó là những lũ chuồn chuồn nhớ nắng, rặng duối, hoa mướp, hoa xoan, đom đóm hay khung cảnh hội hè, đêm vắng, đám xẩm… và cả cái cảnh, một ông già với con ngựa trên đường xuống huyện mỏi mắt chờ đò. Rồi hãy cùng đọc những câu thơ “Bến bỗng nổi một nhịp cười như rú/ Sông rùng mình nước giợn bóng ma bơi”, “Những đĩ con ngồi buồn lê bắt chấy/ Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi kêu” và cả những “Ngoài sân chùa trăng tươi tung ánh bạc/ Lũ trai tơ rộn rịp lượn vào ra/ Thỉnh thoảng họ lại nam vô lên một lượt /Và cười trêu các ả đến dâng hoa”. Đây là một thứ tả thực mới về chất. Một thứ đồ gỗ để mộc chưa qua sơn phết. Giống như cuộc phiêu lưu của những mùi hương mà nhà thơ đã ghi nhận Làng xóm lặng say đi trong giấc ngát/Những hương hồng hương lý dậy miên man, hồn thơ ở Bức tranh quê cũng có lúc miên man trong hành trình tìm tòi của mình.

Bà đã gửi tập thơ đầu tay “Bức tranh quê” để tham dự và đã đạt giải khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn. Trong vẻ độc đáo hiếm có, “Bức tranh quê” đã đánh dấu cho sự đa dạng của một phương hướng từng chi phối thơ Việt trong cả thế kỷ XX. Với thành công của tập Bức tranh quê, bà là nhà thơ nữ đầu tiên đoạt giải thưởng lớn và được ví như một bức tranh tĩnh vật bằng thơ trước cách mạng.

Những tác phẩm chính trong suốt cuộc đời sáng tác của bà, gồm: Bức tranh quê (thơ - 1941), Răng đen (tiểu thuyết - 1942), Cuối mùa hoa (thơ), Từ bến sông Thương (hồi ký), Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt (hồi ký văn học). Với những cống hiến cho phong trào thơ mới như vậy, bà từng được ca ngợi là một cô nữ sĩ xinh đẹp nổi tiếng đất Kinh Bắc, 17 tuổi đã đoạt giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn, làm điên đảo những văn tài thời đó như Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Bính, Tú Mỡ...

Với quan niệm "Thơ phải ngắn gọn, không nên rườm rà, phải nói ít viết ít mà người đọc lại hiểu nhiều. Thơ hay phải là những gì tinh túy, vĩnh cửu nhất từ trong tâm hồn con người. Người làm thơ cũng đừng cầu kỳ câu chữ quá mà khiến cho người đọc khi đọc rồi cứ phải suy luận. Thơ là hào quang soi rọi những bước đường kháng chiến gian khổ nhất. Thơ giải phóng được cuộc đời bình lặng của lớp người con gái dưới thời phong kiến’’, nữ sĩ Anh Thơ đã yêu thơ như yêu một lẽ sống ý nghĩa nhất trong cuộc đời mình.

Sau Bức tranh quê, Anh Thơ chuyên viết phóng sự về vợ các nhà văn, nhà thơ đương thời cho Báo Đông Tây. Răng đen là cuốn tiểu thuyết đầu tay của bà (Bàng Bá Lân viết lời giới thiệu, NXB Nguyễn Du) nay đã thất bản. Sau năm 1945, Anh Thơ trở thành một nhà thơ cách mạng. Không chỉ làm thơ cổ vũ, động viên tinh thần cách mạng, bà còn trực tiếp tham gia: làm "chị nuôi", đi quyên góp tiền gạo nuôi quân, từng mặc áo dài lụa vân trắng, cưỡi ngựa hồng dẫn đầu đoàn quân tiến vào trại phỉ, phủ dụ chúng đi theo Việt Minh. Năm 1956, tập thơ “Kể chuyện Vũ Lăng” của bà được tặng thưởng của Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam. Năm 2001, ở tuổi 80 bà vinh dự được Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trao Giải thưởng Nhà nước. Sang năm 2002 bà cho ra đời bộ Hồi ký Anh Thơ (1.111 trang, gồm 3 tập: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú và Bên dòng sông chia cắt - NXB Phụ Nữ, Hà Nội), đây là tác phẩm cuối cùng Anh Thơ để lại cho đời. 85 tuổi bà trở về với "bến sông Thương". Tiễn đưa bà có lẽ không gì thấm thía hơn những câu thơ của cô gái quê hai mươi tuổi ngày ấy, đã trở nên rất quen thuộc với nhiều thế hệ người yêu thơ: "...Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng. Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời" (Chiều xuân - Bức tranh quê).

Anh Phương

 

;?>