• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4312917
  • Số người đang xem: 29
  • Trong ngày: 4099
  • Trong tuần: 9625
  • Trong tháng: 480674
  • Trong năm: 3960694
Trang chủ

Làng Quan họ Trung Đồng

( 12:00 | 10/11/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Làng Trung Đồng, xã Vân Trung, huyện Việt Yên nằm giáp bờ sông Cầu, ngay dưới chân dãy Nham Biền. Nơi đây có vị trí chiến lược quan trọng, trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược phương Bắc, mảnh đất này luôn là phòng tuyến quan trọng chặn giặc ngoại xâm trước khi vào được kinh đô Thăng Long. Không những thế, trong thời bình, mảnh đất này còn là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa. Sông Cầu xưa từng tấp nập với cảnh trên bến dưới thuyền, là huyết mạch của nền kinh tế xưa.

Với vị trí “đắc địa” cả trong thời chiến cũng như thời bình, làng Trung Đồng đã được cư dân Việt đến khai phá từ lâu đời. Theo các cụ cao niên trong làng truyền lại, cư dân nơi đây xưa vốn gốc là người ở Quả Cảm, Bắc Ninh. Vào thời Trần, bà Hoàng Phi vợ vua Trần Anh Tông là người làng Quả Cảm đã tâu với vua cho khai hoang lập làng ấp mới. Những cư dân đầu tiên theo bà Chúa đến khai đất, lập làng là người của dòng họ Nguyễn, họ Trần, họ Ngô, họ Hoắc... Thấy đất đai nơi đây tươi tốt, lại có các gò mô tự nhiên theo thế “tiền tam thái hậu ngũ nhạc” bao quanh nên bà quyết định cho dân ở lại dựng làng. Là một làng cổ ven sông Cầu, người dân Trung Đồng từ xưa đã quen nghề sông nước. Nguồn sống chính của người dân xưa kia là đánh cá và làm ruộng. Nhà nào cũng có một chiếc thuyền để đánh cá, chuyên chở hàng hoá, vật liệu. Truyền thống này còn giữ được cho đến tận ngày nay, khi mà đường thuỷ nội thôn dẫn từ đồng vào trong làng kéo dài tới hơn 10km.

Làng Trung Đồng xưa chia thành 2 giáp, là giáp Đông và giáp Đoài. Việc phân chia giáp này là chia theo dòng họ, họ Trần, họ Hoắc và về sau có thêm họ Nguyễn Hữu ở bên giáp Đông, còn giáp Đoài có họ Nguyễn, họ Ngô và họ Vũ. Tuy phân chia theo giáp để lo việc sự lệ, lễ hội hàng năm nhưng thành viên của hai giáp Đông và Đoài vẫn ở xen kẽ chứ không phân chia theo xóm tách biệt như nhiều nơi khác. Phân chia giáp là để cắt cử người theo giáp trông nom việc làng. Mỗi năm một giáp đứng ra đăng cai việc đình đám, giáp đăng cai việc làng năm đó có quyền quyết định các công việc trong làng, cử người làm chủ tế, quyết định việc ăn uống, chia phần trong hội làng… Vào mùng 10 tháng Giêng là ngày giỗ và rằm tháng tám âm lịch là lễ sinh nhật Bà Chúa, dân làng lại tổ chức rước nồi hương của bà Chúa từ nghè về đình tế lễ, mở hội. Sau 3 ngày lại rước nồi hương bà Chúa về nghè. Lễ cúng hôm trước hội có cỗ xôi con gà, hôm chính hội cúng thủ trâu, một đĩa gan và cái đuôi. Buổi chiều, tối ở sân đình có đấu vật, đánh cờ người. Những năm phong đăng hoà cốc, làng còn mời các phường trò về biểu diễn. Có năm đông phường trò đến, làng quy định cho mỗi phường được diễn trong một vồ hương. Hương cháy hết phần quy định mà phường chưa diễn xong thì không được thưởng. Và lễ hội hàng năm không thể thiếu được những lời ca quan họ.

Hát quan họ đã có từ xa xưa ở Trung Đồng với nhiều thế hệ “nghệ nhân” tiếp nối. Theo các cụ cao niên trong làng, đại diện là cụ Thượng của làng Hoắc Công Tào (năm nay 86 tuổi còn rất khoẻ mạnh minh mẫn) kể lại: thời còn nhỏ đã thấy các ông, bà, bố mẹ và người trong làng đi hát quan họ. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, các cụ trong làng vẫn còn đi hát bọn, hát thi giao lưu ở các hội làng trong huyện và sang cả bên Bắc Ninh, thi hát ở các hội làng Diềm, Chấp bên kia sông Cầu. Các cụ cao niên trong làng còn nhớ, lớp các cụ bà đã qua đời nổi tiếng hát hay, như bà Bánh, bà Hẹn, bà Binh, bà Đà. Các cụ bà này nếu còn sống nay cũng hơn trăm tuổi. Đặc biệt là bà Bánh nổi tiếng “biết đủ lối, thuộc đủ câu” quan họ. Trong một buổi thi hát, bà Bánh cứ hát xong một câu (tức một bài) lại vứt một hạt đỗ vào đấu, mà khi hát xong được đầy lưng đấu đỗ. Tiếp sau bà Binh, bà Hẹn, bà Bánh, bà Đà, làng Trung Đồng có các bà Nguyễn Thị Khúc, bà Nguyễn Thị Lỉnh, bà Hoắc Thị Bạ, bà Nguyễn Thị Ngư. Các bà này đều mất cách đây trên 10 năm, khi mất đều hơn 70 tuổi.

Sau đời các cụ bà nói trên, từ năm 1948-1960 sinh hoạt quan họ làng Trung Đồng cũng như các làng quan họ khác bị gián đoạn do điều kiện kinh tế, chiến tranh. Song bất cứ khi nào có điều kiện, câu hát quan họ lại sống dậy trong từng ngõ xóm của làng quê Trung Đồng. Lớp kế cận hiện nay đều coi quan họ là một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống. Từ năm 1964 các bà, các chị nô nức học hát quan họ để nối lại truyền thống của ông cha. Đi sâu tìm hiểu trong dân các làng xung quanh, đều công nhận làng Trung Đồng có truyền thống hát quan họ và biết hát quan họ.

Đặc biệt lớp người cao tuổi ở làng Trung Đồng hiện nay có ông Hoắc Công Chờ đã 70 tuổi nhưng vẫn còn khoẻ mạnh, minh mẫn và ông hát được rất nhiều làn điệu quan họ theo lối cổ. Ông Chờ học hát quan họ từ năm 12 tuổi, học từ mẹ là bà Nguyễn Thị Ngư (mất năm 1995, thọ 72 tuổi) và các bà Nguyễn Thị Lỉnh, Nguyễn Thị Khúc (đều đã mất). Từ năm 1964, ông Chờ đã dạy hát quan họ cho nhiều người trong làng, ngoài xã và cả người làng Diềm, Bắc Ninh sang học. Nhiều làng mời ông đến dạy hát cho đội văn nghệ làng mình, như: Vân Cốc, Xóm 1, Trúc Tay cùng xã. Ngoài những bài hát học được từ nhỏ, ông Hoắc Công Chờ còn sưu tầm những bài quan họ cổ trong vùng, sưu tầm các sách về hát quan họ, quan tâm tìm hiểu văn hóa quan họ ở các làng quan họ bờ nam sông Cầu. Rất tâm huyết với lời ca quan họ, ông Hoắc Công Chờ tâm sự: Làng tôi dù nghèo cũng vẫn duy trì hát quan họ và đi thi hát quan họ với xã với huyện. Có điều làng nghèo quá, nên không đầu tư được trang phục áo xống bằng người. Tôi vẫn dạy hát mà không lấy công, chỉ mong có nhiều người đến học là vui rồi.

Sinh hoạt văn hóa quan họ còn được biểu hiện đậm nét trong mỗi dịp lễ hội đình chùa, nghè của làng Trung Đồng cùng với Thượng Đồng (tức làng Lẫm) và Hạ Đồng (Bắc Ninh) vốn có quan hệ kết chạ từ xa xưa và đến nay vẫn còn lưu giữ tình cảm đẹp đẽ này. Tương truyền việc kết chạ bắt nguồn từ xa xưa khi bà Chúa đưa dân về lập ấp đã lập nên nhiều làng, trong đó có ba làng Đồng, phân chia thành Thượng Đồng, Trung Đồng và Hạ Đồng. Cả ba làng cùng thờ Bà Chúa và kết làm anh em với nhau đời đời kiếp kiếp, nam nữ ba làng không được kết hôn với nhau. Hàng năm vào ngày giỗ Bà Chúa (mùng 10 tháng Giêng âm lịch), dân làng Trung Đồng lại sửa lễ sang chạ anh góp thờ Bà Chúa. Và đến dịp rằm tháng tám âm lịch là ngày sinh nhật Bà Chúa, hai dân anh lại sang Trung Đồng dự lễ.

Gần đến ngày lệ, các cụ họp ở đình, bàn việc rồi cử vài cụ đại diện sang chạ anh mời chạ anh đến ngày sang dự lễ. Xưa kia đi lại đều dùng thuyền. Các cụ đi mời mang trầu cau, mặc áo lương khăn xếp sang đặt lễ ở đình sau đó kính cẩn thưa với dân anh rằng vào ngày… chúng em mở hội làm lễ, mời dân anh sang dự lễ và cùng hát vui.

Đúng ngày hẹn, dân anh dẫn đầu là các cụ cao tuổi, tiếp đó là các liền anh liền chị bưng lễ trầu cau, hoa quả qua đò ngang cập bến Trung Đồng. Dân Trung Đồng ra đón dân anh có các cụ cao tuổi và các bà các chị trong đội hát quan họ. Các cụ đưa dân anh vào lễ ở đình làng và hát một số bài quan họ chúc mừng. Sau đó hai dân ăn trầu, uống nước, hàn huyên sau những ngày xa cách. Buổi trưa, dân em mời chạ anh dự bữa cơm thân mật. Từ buổi chiều đến tối cuộc hát mới bắt đầu. Mỗi dân chia thành một bên chiếu ngồi hát đối đáp với nhau. Ở đây các loại hình nghệ thuật dân gian có sự hoà quyện vào nhau: hát quan họ nhưng lại dùng ống hát- hết hợp với hình thức hát ống và khi cần lại chuyển từ hát quan họ sang hát ví rồi từ hát ví chuyển về hát quan họ. Theo ông Chờ nhớ lại, các cụ xưa khi hát quan họ phải chọn bài hát có nội dung đối nhau, giọng điệu tương tự nhau và chọn người ngang giọng nhau để hát đối.

Đón dân anh, trong làng rộn ràng chuẩn bị nơi nghỉ ngơi, ăn uống. Thanh niên nam nữ sửa soạn xiêm áo chỉnh tề để đón mừng và lời ca quan họ đã giúp chạ anh, chạ em thêm gần nhau hơn trong ngày hội lệ. Đến khi chạ anh ra về lời quan họ còn lưu luyến mãi không thôi…/.

Nguyễn Thị Nga

;?>