• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4301348
  • Số người đang xem: 47
  • Trong ngày: 4123
  • Trong tuần: 38509
  • Trong tháng: 469105
  • Trong năm: 3949125
Trang chủ

Văn hoá vùng Bo

( 12:16 | 10/11/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Vùng Bo là địa danh ước lệ ở khu vực ngã ba sông Thương và sông Sỏi. Đó là vùng đất ngày nay gồm các xã Bố Hạ, Hương Vĩ, Đông Sơn và thị trấn Bố Hạ. Nơi đây có đường bộ đi Cầu Gồ (trung tâm huyện Yên Thế), đi Kép (Lạng Giang) và đi Phổng (huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn), có đường thuỷ theo sông Thương về thành phố Bắc Giang và xuôi xuống sông Lục Đầu. Thị trấn Bố Hạ là đầu mối giao thông của hai trục giao thông thuỷ bộ này.

Là vùng đất ngã ba sông nên vùng Bo có đường ranh giới nước là 2 con sông, và đường ranh giới núi là núi rừng Từ, núi Đèo Vàng, núi Đèo Sặt, Đồng Bụt… Đây là một khu tam giác tự nhiên có con đường bộ Bố Hạ đi Phổng là đường phân thuỷ. Phía đông đường thì nước chảy ra sông Thương, phía Tây đường nước chảy về sông Sỏi. Con đường bộ này là sống đất của cả vùng vậy.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện ở vùng Bo được các công cụ đá của con người thời hậu kỳ đã cũ, thuộc nền văn hoá Sơn Vi (Cách ngày nay từ 2 vạn tới 1,5 vạn năm). Tiếp theo là các phát hiện ra các công cụ đá, đồng của thời đá mới, thời đại đồ đồng, đồ kim khí của các thời kỳ văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn… thời đại Hùng Vương. Tuy thế, đó chỉ là các phát hiện lẻ tẻ chứ chưa phải là phát hiện ra các di chỉ khảo cổ học.

Vùng Bo có một loạt địa danh gắn với truyền tích về thời dựng nước, mở nước, như: rừng Từ, Đông Kênh, đền Quynh, Vụng Loan… Truyền tích cho biết rằng: từ thuở xa xưa, có một vị quan dẫn quân về vùng này chọn nơi đóng quân, thấy đất đẹp, muốn dựng đô ở đó. Ông cho trồng 100 cây thông để xét, nhưng chỉ có 99 cây mọc, 100 con Phượng Hoàng bay tới, 99 con có chỗ đỗ - 1 con không có chỗ bèn bay đi. Thế là cả đàn chim bay đi. Vị quan đó biết việc không thành, bèn lo rèn luyện quân sĩ, tích luỹ lương thảo, đề phòng bất trắc có thể xảy ra.

Rồi một ngày nọ, có giặc đến xâm chiếm. Vị quan đó cùng vợ, con, quân sĩ chống lại. Nhưng thế giặc mạnh, cự không nổi nên mỗi người tan tác một nơi. Vị quan và vợ ông ta mất tại đó. Các cô con gái mỗi người mất ở một nơi. Sau này dân lập đền thờ: nơi vị quan mất gọi là rừng Từ (Rừng Đền) ở đỉnh núi gọi là Đền Cha, nơi vợ ông mất gọi là đền Trắng (Đền Mẹ), chỗ các cô con gái mất gọi là đền Quynh, đền Huyết Hồ và một số nơi khác. Các vị vua sau này đã truy phong và tặng sắc phong cho vị quan ấy là Càn Sơn đại vương, vợ ông là Bảo Nga phu nhân, các con là Bảo Nương công chúa, Nguyệt Nương công chúa và được thờ cũng mãi mãi.

Điều tra trên vùng đất Bo đã thấy có dấu tích thời Bắc thuộc. Ở các địa danh mả Tàu, nơi Tàu để của với truyền tích về lợn què, vịt què… đã phát hiện được các di vật của thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV) là các đồ gia dụng như bát, đĩa, vò, lọ… nhưng không tập trung. Điều đó chứng tỏ từ thời Lý - Trần trở về trước, khu vực này vốn là vùng giáp núi, giáp rừng, con người còn ít lui tới hơn vùng xuôi.

Từ thế kỷ XV – XVI trở đi, các luồng cư dân tới vùng Bo cư trú đông hơn. Đã phát hiện ở Bo Chợ những khu cư trú có dấu tích cũ, Bo Non, Bo Giầu, Bo Hạ, Bo Thượng (Đông Kênh) … Đó là dấu tích làng cũ, phố chợ ở (Bo Chợ), khu làm gốm (kề Bo Giầu), khu khai thác quặng (ở Bo Non), khu cư trú đông hơn như ở Bo Hạ với các xóm Dinh, xóm Tướng, rừng Khanh, Sau Gia… Ở đó đã phát hiện di vật như: bát, đĩa, vò, lọ, non, vại, kiếm, tiền xèng… mang phong cách, đặc điểm của thời Lê. Các lớp dân cư đó cư trú kế tiếp nhau và tạo nên các làng xóm trù mật, với cái tên vốn có của mình. Thời kỳ này các dòng họ như Phan, Nguyễn, Trịnh, Hoàng, Dương, Đặng, Trần, Lê… lần lượt đến cư trú và duy trì các tập tục của dòng họ mình, đồng thời đoàn kết với các dòng họ khác xây dựng làng, xã.

Nói tới vùng Bo là nói tới các làng Bo thuộc xã Bố Hạ xưa. Xã Bố Hạ xưa gồm các làng Bo Non, Bo Chợ, Bo Hạ, Bo Thượng, Bo Giầu. Trong đó, Bo Thượng gồm: Đông Kênh, đồi Lánh, đồi Hồng, bến Trăng. Bo Giầu sau thuộc về xã Nghĩa Trang (Lạng Giang). Bo là tên Nôm. Trong văn bản Hán Việt, Bo được viết ra thành chữ “Bố”, nên một số văn bản cũ vẫn ghi “Bố Hạ”, “Bố Sơn Trại”. Xã Bố Hạ xưa thuộc tổng Hương Vỹ, châu Hữu Lũng (sau là huyện Hữu Lũng). Tổng Hương Vỹ có xã Hương Vỹ vốn là xã đầu tổng, do đó xã Hương Vỹ và xã Bố Hạ xưa có những đặc trưng văn hoá khác nhau. Nhưng do vị thế địa lý, điều kiện kinh tế, văn hoá của xã Bố Hạ xưa nổi trội hơn, nên ảnh hưởng của nó tác động tới toàn vùng và vì thế mà phạm vi vùng Bo được mở rộng.

Xã Bố Hạ xưa thuận lợi về giao thông thuỷ bộ. Trung tâm xã ban đầu đóng ở làng Bo Chợ. Vì thế, khi xây dựng đình thì đình Bo Chợ được gọi là đình hàng xã. Ngày hội lệ mở vào ngày 15 đến 17 tháng Giêng hàng năm. Các làng Bo rước về tập trung ở đình Bo Chợ tế lễ, rồi cùng nhau rước lên đền Trắng. Ở đó làm lễ bái vọng lên đền Thượng. Cũng do vị thế làng Bo Chợ như vậy nên trong thời Lê và cả thời Nguyễn, làng Bo Chợ khá nhộn nhịp, sầm uất. Ở bên đình có phố, có chợ, trên bến dưới thuyền. Chỗ đó nay còn địa danh phố chợ. Nói chung, con trai Bo Chợ luôn được coi là bậc đàn anh.

Làng Bo Non cách làng Bo Chợ không xa. Đó là làng gần cửa rừng nhất so với các làng. Ở nơi cửa rừng, vì qua đó thì vào cổng Châu (châu Hữu Lũng xưa) là nơi rừng xanh núi đỏ. Trong khu vực làng có quặng mỏ (như ở xóm Vàng). Đàn ông nơi đây gánh vác việc sơn tràng, khai mỏ, đàn bà lo việc nội trợ, đồng áng, duy trì cuộc sống.

Làng Bo Giầu là một làng to ở bên kia sông Thương đối diện với làng Bo Chợ, Bo Hạ. Ngày ấy, cư trú theo kiểu cài răng bừa, răng lược nên có một làng cùng xã bên kia sông. Làng Bo Giầu ngoài việc đồng áng còn có nghề trồng trầu không, trồng cau. Công việc đồng áng, cau trầu đều do hai vợ chồng lo liệu, nên con cái ở Bo Giầu có phần nhàn nhã hơn nơi khác.

Làng Bo Hạ là làng có các dòng họ lớn có tiếng trong vùng, như: họ Phan, họ Trịnh, họ Nguyễn… Các họ này vốn là các họ gia giáo lề lối, tôn ti trật tự nối đời nhau. Do đó, việc kén vợ cho con trai rất cẩn thận chu đáo. Cô gái nào về làm dâu ở các họ này được các cụ yêu mến, chăm lo theo tư tưởng “Dâu là con, rể là khách”, đã là con thì được đối xử như con, và thân phận làm dâu có phần nhẹ đi.

Chính vì thế, trong vùng Bo xưa mới có câu “làm chồng Bọ Chợ, làm vợ Bo Non, làm con Bo Giầu, làm dâu Bo Hạ” là để chỉ ra cái hơn, cái được của mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau loạn giặc Cờ Đen thì toàn vùng bị lôi cuốn vào phong trào khởi nghĩa Yên Thế, do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo chống lại thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Vùng Bo, Pháp chiếm - chúng đóng ở Bo Hạ. Đường giao thông trong vùng được điều chỉnh lại như ngày ngay - Một khu đồn binh được xây dựng ở khu kề ngã ba đường bộ đi các nơi. Đình, chùa làng Bo Hạ phải chuyển đi nơi khác để lập đồn binh. Trại lính, khu gia binh, nhà thương, nhà thờ… khu nghĩa địa, đồn kiểm lâm dần dần được thiết lập. Cư dân các nơi tới sinh sống bên đồn, bên đường trở thành phố - chợ. Một đơn vị hành chính mới được sinh ra. là đơn vị hàng phố khác với đơn vị hành xã, hàng tổng… ở khu vực này. Từ đây, vị thế các làng Bo khác mất vai trò và lu mờ dần đi để cái phố nhỏ đó nổi lên.

Trong thời kỳ cách mạng Tháng Tám năm 1945, quân cách mạng do bà Hà Thị Quế chỉ huy đánh tan quân Pháp ở đồn Bố Hạ - Thành lập chính quyền cách mạng. Từ đó, nhân dân vùng Bo đi theo cách mạng.

Trải bao thăng trầm lịch sử, vùng Bo với đặc trưng văn hoá đã được duy trì và phát huy các giá trị di sản văn hoá của mình. Vùng này tuy về mặt hành chính có thay đổi, nhưng nét văn hoá vẫn như xưa, các di tích còn đó, sinh hoạt văn hoá còn đó, cảnh quan môi trường sinh thái còn đó, chỉ cần con người kết nối lại là toàn vùng lại khởi sắc tưng bừng./.

Trần Văn Lạng

;?>