• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 100926
  • Số người đang xem: 32
  • Trong ngày: 4033
  • Trong tuần: 53765
  • Trong tháng: 100879
  • Trong năm: 100926
Trang chủ

Nghi lễ then của người Nùng xã Hương Sơn được quan tâm bảo tồn trong cộng đồng

( 08:23 | 18/01/2016 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Hương Sơn là một xã miền núi của huyện Lạng Giang. Trước đây vùng đất Hương Sơn nằm trong địa hạt tổng Cần Dinh. Trong thành phần dân tộc sinh sống trên địa bàn, đáng chú ý có dân tộc Nùng cư trú ở nhiều thôn trong xã. Đồng bào vẫn còn giữ được nhiều phong tục tập quán truyền thống, trong đó nghi lễ then là một trong những phong tục tiêu biểu. Nghi lễ then thể hiện đời sống tâm linh phong phú đồng thời thể hiện nét sinh hoạt văn hóa văn nghệ độc đáo của người Nùng nơi đây.

Theo quan niệm của đồng bào Nùng thì những người làm then (thầy then) phải là những người có “căn số” then muốn tránh cũng không được. Người Nùng quan niệm người làm then là những người được các đấng thần linh trên trời phái xuống trần gian cứu độ chúng sinh. Tiếng Nùng then (thẻn) có nghĩa là thiên là trời. Thầy then (pà thẻn) là người của trời. Dân tộc Nùng ở Bắc Giang nói chung và dân tộc Nùng ở Hương Sơn nói riêng thì thầy then thường là người phụ nữ làm, rất ít khi là nam giới. Nếu thầy then là nam giới thì được gọi là “then pựt” (then đực).

Trong cuộc sống, khi đồng bào gặp bất kỳ hiện tượng lạ nào mà không lý giải được hoặc khi họ muốn cầu mong cho cuộc sống của gia đình mình, bản thân mình và con cháu được bình yên, may mắn, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi thì họ đều tìm đến bà then để được nghe bà then đàn hát. Bà then giống như một bà tiên trên trời với cây đàn tính trên tay gẩy những khúc nhạc, cất lên những lời ca theo mây theo gió vang đến tận trời xanh. Bà then nhờ lời ca tiếng hát của mình đưa những nguyện ước đó đến các đấng thần linh, đến phật quan thế âm bồ tát, đến ngọc hoàng…để biến chúng thành hiện thực. Nếu như ta xóa đi yếu tố mê tín dị đoan trong then thì nghi lễ then quả thực được ví giống như một buổi sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, trấn an tinh thần cho dân chúng. Người Nùng ở Hương Sơn có các nghi lễ cúng then như sau: cúng chuộc hồn, cúng tổ tiên, cúng sinh nhật, cúng cầu an, cúng nhà mới, cúng cắt tiền duyên. Thời gian người Nùng ở Hương Sơn mời thầy then về cúng thường là vào mùa xuân và mùa thu. Các nghi lễ then thường được tổ chức vào buổi tối, được gia chủ chuẩn bị từ hôm trước và mời người thân đến dự. Mỗi năm thầy then có 3 vấn lễ là dịp để các con hương đến trả ơn thầy then đã cúng cho gia đình mình linh nghiệm. Đó là vào dịp đầu tháng giêng, mùng 5 tháng 5, 15 tháng 7 âm lịch. Kết hợp với dịp trả lễ 5/5 một số thầy then còn làm lễ chuộc vía và gửi vía cho các gia đình có cháu nhỏ.

Thực hành nghi lễ Then. Ảnh: Vi Tỉnh

Người làm then cũng có cấp bậc, mỗi một lần lên chức (lẩu then) thường được thầy then tổ chức rất tốn kém tiền bạc và thời gian. Thời gian tổ chức lẩu then thường kéo dài 2 đêm 3 ngày và phải mời tới 3-4 thầy cúng đến làm lễ, 3-4 người bạn cùng làm then, họ hàng thân thích, bà con lối xóm… Ở xã Hương Sơn hiện nay có 4 người làm then. Thôn Hố Cao có bà Chu Thị Hồng Vân, bà Vi Thị Lả, bà Vương Thị Vèn. Thôn Cần Cốc có bà then Đàm Thị Mùi. Mỗi một thầy then lại có một đường then riêng của mình. Lời ca tiếng hát khi tiến hành nghi lễ then có nội duung chủ yếu là kể về một hành trình đầy gian nan vất vả vượt qua nhiều thử thách của một đội quân đầy dũng mãnh, quả cảm. Đội quân này có tướng chỉ huy, có quân lính được trang bị vũ khí tinh nhuệ và ngựa chiến. Sau khi thầy then soi hương xin phép thần thánh, tổ tiên thầy sẽ hóa thân theo gió, mây cùng các binh lính lên đường. Trên đường đi họ phải trải qua rất nhiều thử thách cam go, mỗi một chặng đường lại gặp những thử thách khác nhau. Ví dụ như: có chặng đường gặp cướp phải đánh trả quyết liệt, có lúc lại phải băng rừng, vượt suối, vượt biển, có lúc hết lương thực phải săn bắt thú rừng làm thức ăn. Có lúc đội quân gặp những hoàn cảnh khốn khó lại giang tay giúp đỡ…đồng thời đoàn quân cũng phải vượt qua những cám dỗ, ham muốn của bản thân.

Qua mỗi một chặng đường thầy then lại có những cung đàn, giọng hát khác nhau thể hiện sao cho phù hợp với từng tình huống gặp phải. Ví như khi gặp phải thân phận khốn khó, éo le cần giúp đỡ thì sử dụng giọng hát ngọt ngào, yêu thương, chứa chan tình cảm. Khi đi săn thú rừng thì giọng hát mau lẹ, khỏe khoắn, hùng dũng. Khi cầu xin người lái đò vượt biển giọng hát lại tha thiết níu kéo. Vượt qua mỗi một cửa ải bà then lại có động tác phất quạt 3 lần: lần phất đầu tiên là để thỉnh tứ phương, lần phất thứ hai là để thỉnh các thầy ở cửa mây xanh mây trắng, lần phất thứ 3 thể hiện biểu tượng của những tia chớp. Việc cầu xin của gia chủ càng nhiều, càng nặng thì tiếng phất quạt càng lớn. Để giúp việc cho thầy then có những người đi nhạc ngựa. Nhạc ngựa là một vòng được làm bằng nhiều móc sắt hoặc đồng nối với nhau và quả nhạc. Tiếng sóc nhạc biểu tượng cho đoàn quân đang hành quân. Người đi nhạc ngựa điều khiển tiếng nhạc sao cho phù hợp với tiếng đàn, lời hát của bà then, phù hợp với từng tình huống mà đoàn quân gặp phải. Nếu đoàn quân tiến bước bình thường không gặp bất chắc gì thì tiếng nhạc ngựa đều đều, nhịp nhàng, người đi nhạc ngựa đưa tay ở dưới thấp. Nhưng khi đoàn quân đi đến đoạn đường cần phải phóng ngựa nhanh, thì tiếng nhạc ngựa rộn rã, gấp gáp thậm chí là người đi nhạc ngựa còn đứng hẳn lên nhảy múa.

Một cuộc làm then thường là phải kéo dài hết một đêm thì đoàn quân sẽ đến gặp được thánh thần, Nam Tào - Bắc Đẩu, Ngọc Hoàng để trình bày những lời cầu xin của gia chủ và nhờ hóa giải những kiếp nạn, biến những lời cầu xin của gia chủ trở thành hiện thực. Sau đó là khao lễ quay về hoàn thành một cuộc làm then.

Thầy then trước và trong khi làm then họ phải kiêng kỵ như sau: Kiêng không đụng tay vào những thứ hôi hám, kiêng không ăn những thứ hôi tanh như: tỏi, thịt chó, thịt trâu. Khi làm then thầy then rất kỵ những người có vía lạnh, những người vừa mới đi dự đám tang về, nên những người này không được ngồi gần thầy then khi thầy đang hành lễ. Mỗi thầy then đều phải có đủ dụng cụ cần thiết để sử dụng trong một cuộc làm then bao gồm: 1) Đàn tính (tính) là một nhạc cụ không thể thiếu được của bà then. Khi tiến hành nghi lễ then bà then sẽ vừa gẩy đàn tính vừa hát theo tiếng nhạc. 2) Nhạc ngựa (nhạc mạ): khi làm lễ những người giúp việc cho bà then sẽ đi nhạc ngựa phụ họa cùng bà. Tiếng nhạc ngựa trầm bổng tùy theo từng chặng đường mà đoàn quân đi qua mà điều chỉnh cho phù hợp. 3) Quạt (bơ vi): một tay bà then gẩy đàn, một tay cầm quạt múa. 4) Kiếm (mạc kiếm): đây là dụng cụ ít khi được bà then sử dụng. Chỉ khi nào cúng múa đuổi ma quỷ thì mới sử dụng, thông thường trong lễ then vào nhà mới thầy mới dùng tới mạc kiếm.

Nghi lễ then của đồng bào dân tộc Nùng ở xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang hiện nay còn lưu giữ được rất nhiều nét truyền thống tạo nên đặc trưng riêng của dân tộc mình. Thông qua nghi lễ then chúng ta có thể biết được đời sống tâm linh phong phú của người Nùng ở Hương Sơn. Then cũng được coi như một hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ cộng đồng, là một nét đẹp trong đời sống của bà con nơi đây. Năm 2015, Nghi lễ Then của người Tày, người Nùng tỉnh Bắc Giang đã được Bộ trưởng Bộ VHTTDL công nhận đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hiện nay, Sở VHTTDL tỉnh Bắc Giang đang phối hợp với Viện Âm nhạc Việt Nam xây dựng Hồ sơ Then Tày, Nùng, Thái Việt Nam trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thế đại diện của nhân loại. Đây sẽ là một cơ sở vững chắc để sinh hoạt văn hóa Then của người Nùng  tại xã Hương Sơn nói riêng, người Tày, Nùng tỉnh Bắc Giang nói chung được bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị hơn nữa trong thời gian tới./.

Vi Thị Tỉnh

           

 

 

 

;?>