• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3229492
  • Số người đang xem: 27
  • Trong ngày: 6023
  • Trong tuần: 18616
  • Trong tháng: 1245350
  • Trong năm: 2877269
Trang chủ

Thân Nhân Trung (1418 - 1499) với văn hóa Thăng Long - Đông Đô

( 10:59 | 01/12/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Năm 2009, năm kỷ niệm 510 năm mất (1499-2009) của danh nhân Thân Nhân Trung và kỷ niệm 525 năm dựng (1484 - 2009) tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn miếu Thăng Long- Đông Đô của soạn giả Thân Nhân Trung. Với hai sự kiện này chúng ta lại tưởng nhớ tới ông là một người đã đóng góp xây dựng truyền thống văn hoá Thăng Long của hai triều đại Lý - Trần phát triển đặc biệt trong triều đại Hậu Lê dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Triều đại Hậu Lê đổi tên kinh đô Thăng Long thành kinh đô Đông Đô. Mặc dù bị gián đoạn thời kỳ giặc Minh đô hộ nhưng văn hoá Thăng Long- Đông Đô vẫn liền mạch và phát triển.

Triều vua Lê Thánh Tông là triều vua thịnh trị đã đưa nước ta trở thành một nước hùng cường vào bậc nhất trong khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ cũng như trong suốt cả thời kỳ lịch sử phong kiến Việt Nam. Thân Nhân Trung đã sống và cống hiến tài năng của mình vào thời thịnh trị đó. Ông quê ở làng Yên Ninh, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang hiện nay. Thân thế và sự nghiệp của ông được giới thiệu nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương từ năm 1993 tới nay, đáng kể là sách “Thân Nhân Trung - con người và sự nghiệp” của Lâm Giang do Sở VHTT Hà Bắc và Huyện uỷ, UBND huyện Việt Yên xuất bản năm 1995.

Điểm nổi bật suốt cuộc đời làm quan trong triều của Thân Nhân Trung là được vua Lê Thánh Tông, một vị vua anh minh đã từng rửa oan cho Nguyễn Trãi, tin cậy vì tài năng đức độ. Những công trình văn hoá lớn, vua đều giao nhiệm vụ đứng đầu cho ông như biên soạn Thiên Nam dư hạ tập, Thân chinh ký sự năm 1483, biên soạn các văn bia tiến sĩ đặt tại Văn miếu năm 1484, làm phó nguyên suý (thứ nhất) của Hội Tao Đàn do vua làm nguyên suý lập năm 1494 và ông đều được họa lại tất cả các bài thơ do vua sáng tác trong thời kỳ Hội Tao Đàn tồn tại, khác hẳn trước khi thành lập Hội thì ông chỉ họa một số bài. Nói cách khác, những năm cuối đời vua Lê Thánh Tông từ 1483 đến 1497, Thân Nhân Trung luôn luôn là nhân vật thứ hai, chỉ sau vua, trong lĩnh vực biên soạn, sáng tác những tác phẩm quan trọng của triều đại. Ông cũng là một trong vài ba người được viết bài bình về thơ của vua mà thôi.

Sự tin dùng của vua còn thể hiện ở việc mẹ Lê Thánh Tông (Quang Phục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao) mất đầu năm 1496, rồi vua Lê Thánh Tông mất đầu năm 1497 thì tới đầu năm 1498, vua Lê Hiến Tông (con trưởng Lê Thánh Tông) mới lên ngôi đã cử Thân Nhân Trung soạn hai bài văn bia để khắc, dựng ở lăng mộ bà nội và vua cha tại Lam Kinh. Vua Lê Hiến Tông vẫn trọng dụng như vua cha, đáng tiếc chỉ năm sau thì ông qua đời. Được vua tin yêu như thế khiến uy tín của Thân Nhân Trung rất cao. Ông không phải chỉ có quyền cao chức trọng mà hơn thế ông là người có một nhân cách lớn trong xã hội thời đó. Các vị quan khác tất phải kính nể, trọng vọng. Còn bọn phàm phu tục tử đương thời phải kính sợ, không dám khinh mạn, phải tránh xa ông.

Trong bài thơ “Quân minh thần lương” (Vua sang tôi hiền), Lê Thánh Tông ca ngợi các bậc đế vương nhưng chỉ khen ngợi cha con Thân Nhân Trung  làm quan đương thời khi nhắc tới các thần lương (tôi hiền). Và thái tử (sau là vua Lê Hiến Tông) còn có thơ tặng tiễn ông về thăm quê. Đó là phần thưởng tinh thần cao quý đánh giá công lao của Thân Nhân Trung vào sự nghiệp văn hoá Đông Đô hưng thịnh trong những năm niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497) của vua Lê Thánh Tông.

Ông thi đỗ tiến sĩ năm 1469 cũng là năm địa danh Bắc Giang được đổi tên là Kinh Bắc (theo Đại Việt sử ký toàn thư). Rồi từ 6 năm sau (1475), ông thường được vua cử làm độc quyển (đọc và đánh giá các bài thi tiến sĩ) các kỳ thi để dâng vua xét đỗ. Mỗi kỳ thi đều có trên dưới mười người đất Kinh Bắc đỗ, có người đỗ đến bậc tam khôi, đặc biệt là khoa 1475 có người cùng làng ông là Nguyễn Lễ Kính, khoa 1490 có con trai đầu của ông là Thân Nhân Tín đỗ. Vậy mà ông không có điều tiếng riêng tư gì! Năm 1475 ông mang chức Hàn Lâm viện thị độc kiêm Đông các đại học sĩ bắt đầu độc quyển. Năm 1477 ông mang chức Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm Đông các đại học sĩ tâu lên vua việc chọn con cháu các quan theo phẩm  bậc để đào tạo quan văn, quan võ cứ 3 năm khảo thí một lần lấy đỗ và bổ nhiệm, kẻ nào đau yếu hoặc học hành kém thì xem xét cho mang chức cũ hoặc về làng nghỉ. Năm 1483 ông lại tâu lên vua về việc định nhật kỳ vào trường thi Hương và lệ tiến cống cho các Thừa ty các xứ trong cả nước. Chứng tỏ Thân Nhân Trung rất quan tâm và có trách nhiệm với công việc đào tạo. Năm 1493 và năm 1496 ông đều được làm độc quyển nhưng mang chức Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám. Theo cách hiểu ngày nay thì Tế tửu Quốc Tử Giám là Hiệu trưởng Trường Quốc Tử Giám - Trường Đại học duy nhất thời đó được thành lập từ thời Lý 1076. Chính vì vậy năm 1999 nhân dịp kỷ niệm 500 năm mất (1499 – 1999) của ông, Sở Văn hoá - Thông tin Bắc Giang đã phối hợp với Trung tâm Văn Miếu và Quốc Tử Giám tổ chức Lễ kỷ niệm long trọng, tôn vinh nhà giáo Thân Nhân Trung, danh nhân văn hoá giáo dục triều vua Lê Thánh Tông.

Có thể nói cuộc đời làm quan của Thân Nhân Trung gắn bó mật thiết với hoạt động văn hoá giáo dục. Ở ông văn hoá và giáo dục - đào tạo không tách rời nhau. Trong lĩnh vực văn hóa, ông tham gia biên soạn và sáng tác mặc dù chỉ trong phạm vi triều đình giữa vua tôi nhưng lại gắn bó với đời sống xã hội, với trật tự xã hội, với đạo lý làm vua, làm quan, làm người và làm con dân một đất nước đang chấn hưng phát triển phản ánh một thời đại thịnh trị rất đáng tự hào của lịch sử dân tộc. Ví dụ như năm 1483 Thân Nhân Trung cùng Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ biên soạn bộ sách Thiên Nam dư hạ tập, gồm 100 quyển, trong đó bộ Luật Hồng Đức nổi tiếng gồm 721 điều rất có ảnh hưởng đến đời sau. Bộ phận sáng tác thơ văn cũng chỉ là một mảng của văn hoá Đông Đô trong 38 năm (1460 – 1497) trị vì triều Lê Thánh Tông. Chỉ xem đề tài những bài thơ của nhà vua mà Thân Nhân Trung họa lại cho thấy rất phong phú: mừng một vụ lúa được mùa hai năm liền, cảnh sắc hoa mai bên hồ, một danh lam thắng cảnh của đất nước, nghĩ về người anh tài, nỗi nhớ nhà của tướng sĩ trong gió bấc lạnh lùng, khí tiết của các bậc anh hùng, đạo làm vua, tiết tháo của bề tôi vv… Qua hàng trăm bài thơ của Hội Tao Đàn khiến ngày nay biết được vua tôi thời ấy đã nghĩ gì và làm gì  cho đất nước. Rõ ràng vua tôi thời ấy đã làm và làm nhiều lắm thì mới xây dựng được một thời đại thịnh trị như thế về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá mà lịch sử đã ghi nhận, Thân Nhân Trung có đóng góp vai trò quan trọng.

 Vua tôi thời ấy còn lo cho đất nước về sau thông qua hệ thống giáo dục đào tạo cải cách từ địa phương tới kinh kỳ, đặt lệ 3 năm thi lấy tiễn sĩ, tam khôi (trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa), ra tuyên ngôn đào tạo hiền tài, khẳng định “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”… Trở lại văn bia của bia số một, bia đầu tiên ở Văn Miếu Thăng Long - Đông Đô dựng năm 1484 của Thân Nhân Trung với tuyên ngôn đào tạo hiền tài cho hiện tại và tương lai bằng văn bia (văn bản) dưới trí tuệ anh minh của Lê Thánh Tông và các vị Hàn lâm khẳng định tấm bia là một di sản văn hoá vô giá, một cổ vật lịch sử trải nhiều mưa gió bão tố, chiến tranh ác liệt để tồn tại đến hôm nay. Di sản văn hoá đó, cổ vật lịch sử đó lại mang nội dung về giáo dục- đào tạo. Để thấy được đầy đủ hơn, trở lại văn bia khoa thi 1487 - khoa thi có cháu đích tôn của Thân Nhân Trung là một trong 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ tức tiến sĩ cập đệ thay cho tam khôi trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa của các khoa thi trước - cũng do ông làm soạn giả đã có lời nhắc nhở rất sâu sắc đối với các vị tân khoa về tài đức, học và hành, giữ gìn phẩm chất… Hai tấm bia tiến sĩ do Thân Nhân Trung soạn văn còn đến ngày nay có giá trị rất cao bởi nội dung tư tưởng uyên thâm mà đầy tâm huyết cổ vũ kẻ sĩ quân tử một lòng vì dân vì nước. Không biết có phải ngẫu nhiên hay dụng ý, cả hai tấm bia đều dựng vào ngày 15 tháng tám tức là Tết Trung Thu, một bức vào năm Hồng Đức thứ 15 tức năm Giáp Thìn - 1484, một bức vào năm Hồng Đức thứ 18 tức năm Đinh Mùi - 1487. Nhân dịp Tết Trung Thu năm Kỷ Sửu - 2009, chúng ta tưởng nhớ tài năng và trí tuệ danh nhân Thân Nhân Trung, một người con của đất Bắc Giang hôm nay, đã góp phần đáng kể vào xây dựng văn hoá Thăng Long - Đông Đô nửa sau thế kỷ 15.

Nguyễn Đình Bưu

 

;?>