• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3561789
  • Số người đang xem: 15
  • Trong ngày: 810
  • Trong tuần: 8966
  • Trong tháng: 266273
  • Trong năm: 3209566
Trang chủ

Di tích Phủ Xe với Tiến sỹ Đỗ Đồng Dần

( 11:03 | 01/12/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

            Dân gian xứ Bắc lâu nay vẫn lưu truyền câu phương ngôn:

            - Thứ nhất Phủ Xe, thứ nhì Nghè Nếnh;

-  Thứ nhất đền Lải, thứ nhì Ải Xe, thứ ba Nghè Nếnh.

            Có ý kiến đã giải thích rằng: Phủ Xe hoặc Ải Xe là tên Nôm của làng Khả Lý, tổng Mật Ninh. Tương truyền đền - phủ nơi đây linh thiêng mà có câu phương ngôn ấy lưu truyền trong dân gian.

            Nhưng trong thực tế Phủ Xe và Ải Xe là hai địa danh khác nhau. Ải Xe là tên nôm của làng Khả Lý. Dưới thời phong kiến Lê- Nguyễn, làng Khả Lý (Thượng và Hạ) có tên là xã Kha Lý thuộc tổng Mật Ninh, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang - nay là thôn Khả Lý Thượng, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Còn Phủ Xe là tên gọi một di tích nằm ở đầu làng Khả Lý. Cách đây chừng mười lăm năm, phế tích Phủ Xe đã bị dân địa phương san lấp làm nhà ở không còn nữa.

            Tìm đọc các tư liệu Hán Nôm cổ ở địa phương chúng tôi thấy tên xã Khả Lý được xuất hiện sớm nhất trên cây hương chùa Vĩnh Hưng (Vĩnh Hưng tự thiện nhân đẳng hưng công tạo chúc hương đài). Bài văn này được soạn khắc và dựng năm Kỷ Mão niên hiệu Chính Hòa thứ 20 (1699). Chữ “Kha” ở đây được viết bên trái là bộ “Ngọc”, bên phải là chữ “Khả”- chữ “Lý” nghĩa là làng xóm; Kha Lý được tiền nhân nơi đây đặt ra với ý nguyện làng quê mình trở nên giàu sang, phú quý vậy. Trên hai tấm bia dựng ở đầu làng đều có tên “Kha Lý xã tự hạng” cùng được khắc dựng với niên hiệu Đồng Khánh thứ 3(1888) thì chữ “Kha” lại được viết bên trái là bộ “mộc”, bên phải là chữ “Khả”. Chữ Kha này có nghĩa là: cái cán búa. Đầu thế kỷ 10, trên tấm bia “Bản hạng bi ký” soạn khắc niên hiệu Duy Tân thứ 6 (1912) cũng dựng ở đình làng thì xã Kha Lý lại được viết với tự dạng khác - bên trái là bộ “xa”, bên phải là chữ “Khả”- chữ Kha này nghĩa là cái trục xe hay có nghĩa bóng là điểm trọng yếu của con đường. Có người đã dựa vào chữ Kha Lý này để giải thích tên làng được người xưa đặt với ý nguyện làng quê mình cũng sẽ giống như quê hương của Mạnh Kha (tức Mạnh Tử - Kha Lý là làng quê của thày Mạnh Tử).

            Còn tên gọi Ải Xe có lẽ xuất hiện từ rất lâu rồi. Khảo sát thực tế cùng những thông tin được các cụ cao tuổi địa phương cung cấp, thì từ trước thời Lê Mạc con đường thiên sứ từ Thăng Long, Đông Đô đi Lạng Sơn chạy qua ven làng. Đoạn đường này rất trọng yếu được ví như cái trục của cỗ xe vậy, thêm nữa nó lại chạy sát ven núi như một cửa ải... Có lẽ vì nằm ở địa thế như vậy mà có tên là Ải Xe. Ngoài tên gọi Kha Lý, Ải Xe làng quê này còn có tên gọi khác nữa là Kẻ Xe. Và tên gọi Kẻ Xe đã phản ánh một thực tế rằng: có một thời nơi đây từng là trung tâm buôn bán rất sầm uất, dân cư giàu có nổi tiếng trong vùng. Dân gian quanh vùng Việt Yên vẫn lưu truyền câu ca dao:

- Rủ nhau đi cấy Kẻ Xe

Tương ngọt như chè, gạo trắng như bông

- Trời mưa cho ướt lá bầu

Lấy chồng Kha Lý chẳng giàu cũng sang.

Những câu ca dao, phương ngôn còn đó, nhưng di tích Phủ Xe thì vĩnh viễn đã mất trong niềm tiếc nuối. Các cụ ở Hội người cao tuổi địa phương cho biết Phủ Xe là tên gọi nôm na (theo tên làng) của ngôi từ chỉ phụng thờ Tiến sỹ Đỗ Đồng Dần, danh nhân khoa bảng đỗ đạt ở thời nhà Mạc cùng linh vị họ Đỗ làng Kha Lý. Xưa, Phủ Xe nằm trong rừng cổ thụ gồm có tòa tiền tế 5 gian, hậu cung ba gian bố cục hình chữ Nhị; phía trước có 2 tòa dải vũ mỗi tòa 3 gian. Tất cả các công trình này đều được khởi dựng từ khi Tiến sỹ Đỗ Đồng Dần qua đời. Xung quanh di tích được xây tường bảo vệ bằng gạch chỉ (riêng tòa hậu cung được đại tu vào năm 1933). Phía trước có tam môn, trước tam môn có đắp 2 ngựa chiến và các vũ sỹ đứng chầu. Phủ Xe nổi tiếng linh thiêng, nhân dân địa phương truyền rằng: Qua cổng, người đi ngựa đều phải nghiêm cẩn xuống ngựa, người đi bộ thì phải ngả nón...

Hiện nay, những tư liệu Hán Nôm trong di tích này cũng bị thất lạc hoàn toàn. Căn cứ theo bài văn cúng cùng lời kể của các cụ địa phương chúng ta được biết: lúc cuối đời làm quan Tiến sỹ Đỗ Đồng Dần (các cụ thường gọi là Đỗ Đồng Duy hay Đỗ Đồng Diên) được triều Mạc phong tước Trần Quốc Công. Ông về hưu một thời gian thì mất tại quê nhà, hiện mộ phần nằm ở đồng Bãi Triển. Hằng năm dân làng thờ phụng hai kỳ xuân thu, 27 tháng 2 ngày sinh và 22 tháng 8 ngày giỗ.

Trong sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam thời phong kiến” do Giáo sư Ngô Đức Thọ chủ biên có ghi về ông: “Đỗ Đồng Dần, người xã Kha Lý, huyện Yên Dũng (nay thuộc Việt Yên)... Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải, làm quan đến chức Đoán sự./.

Văn Việt

 

;?>