• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5037116
  • Số người đang xem: 12
  • Trong ngày: 1765
  • Trong tuần: 23795
  • Trong tháng: 1204873
  • Trong năm: 4684893
Trang chủ

Sức sống bất diệt của Sịnh ca Cao Lan

( 15:07 | 01/12/2009 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Tôi có vài lần đi công tác miền núi và ngủ lại nhà những người Cao Lan ở bản Khe Nghè, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam. Thoạt đầu tôi buồn xiết bao khi màn đêm buông xuống, trời giá lạnh, núi rừng âm u, không có điện. Vậy mà không hiểu sao đồng bào vẫn sống như thế bao lâu nay, sống hết thế hệ này sang thế hệ khác. Sinh sôi, nảy nở ngày càng đông đúc? Tôi đã từng tự đặt câu hỏi như vậy. Nhưng rồi tôi đã tìm được câu trả lời để lý giải cho thắc mắc của mình. Ấy là khi tôi được nghe họ hát Sịnh ca.

Một lần nghe hát sịnh ca tại nhà dân bản

            Chúng tôi nghỉ lại nhà bà Trạc Thị Ngọn - một trong những người hát sịnh ca có tiếng của bản Khe Nghè, xã Lục Sơn. Bà Ngọn năm nay đã ở tuổi xấp xỉ bảy mươi, nhưng giọng bà còn đanh chắc lắm. Anh Dương Văn Quang là con trai bà Ngọn đã đãi chúng tôi món thịt gà đen, món ăn mà theo như người miền núi nói là rất bổ. Anh rót mời mọi người thứ rượu miền núi ngâm bằng rất nhiều loại rễ cây rừng. Cái chất men say thật dễ khiến người ta trở nên gần gũi và cởi mở. Thế là câu chuyện của bà Ngọn như đưa chúng tôi vào thế giới của những lời ca Cao Lan mộc mạc mà chất chứa mê say. Bà Ngọn kể: từ khi bà được sinh ra và lớn lên đã thấy ông bà cha mẹ mình hát sịnh ca. Nếu không biết hát sịnh ca sẽ không có bạn. Vì thế mọi người đều phải tự học hát. Thanh niên hát theo người già, trẻ em hát theo người lớn. Cứ thế, không nhiều thì ít, hầu như ai cũng biết hát.

            Đêm ở Khe Nghè xuống thật nhanh. Cái lạnh ở đây như cứa vào da thịt. Lúc này được ngồi bên đống lửa hồng mới tuyệt diệu làm sao! Buổi tối trong căn nhà của người miền núi không bao giờ thiếu bếp lửa hồng. Thể theo yêu cầu của chúng tôi, bà Ngọn sửa giọng và bắt đầu hát:

Háo va hồng

Di làng chộng lậc mỏi mùn trồng

Chộng lậc mỏi mùn mỏi shău chếnh

Chiu chiu chếnh hới họn va hồng

 (Hoa hồng đẹp lắm anh ơi/Anh trồng trước cửa em thời bón chăm/Anh trồng trước cả nhà em/Ngày ngày em tưới để xem hoa hồng).

Thin sẩng sắt shênh cọ cọ pẹc

Táy hổi sanh nhằn cọ cọ quai

Shội chao lậc cốc nình hành liu

Mới tắc cọ nhằn púi tơi quai

(Muôn vàn ngôi sao sáng trên trời/Trái đất mọi người cũng xinh tươi/Bốn biển chân trời em đi hết/Mới thấy được anh đẹp nhất đời).

Bà Ngọn hát liền mấy bài tiếng Cao Lan rồi lại tự mình dịch ra tiếng Việt cho chúng tôi. Tuy tuổi đã cao nhưng bà hát vẫn rất hay, giọng ấm, vang. Ánh lửa hồng bập bùng hắt vào khuôn mặt, nhìn trong đôi mắt bà có cả ngọn lửa đang nhảy múa.  Khi hát trông bà trẻ ra hàng chục tuổi. Bà Ngọn cũng kể rằng: ngày trước cứ vào đầu năm mới hay những dịp chưa vào vụ, thanh niên nam nữ có thể dắt díu nhau đi chơi hàng 5,7 ngày mà không hề bị cha mẹ ngăn cản. Họ rủ nhau đi chơi từng tốp nam riêng, nữ riêng, rồi ngồi bên bờ suối hay bên bìa rừng và bắt đầu hát đối đáp nhau.

Bà Ngọn thuộc tới hàng trăm bài dân ca Cao Lan. Bà cũng khoe chúng tôi bộ quần áo của người Cao Lan mà bà may (khâu) từ hồi con gái. Khi lấy chồng bà vẫn cất giữ suốt đến tận bây giờ. Bộ quần áo chàm đã mấy chục năm nhưng trông vẫn còn rất đẹp. Chỉ những dịp xuân đi hội thì mới mặc quần áo này. Còn ngày thường bây giờ chẳng mấy khi mặc.

 Lúc này anh Quang đã ngà say. Chị vợ Tống Thị Cấp cời than nướng thứ hạt đậu vằn gì đó pha vào cốc nước để cho chồng uống dã rượu. Người miền núi thật lạ. Chồng uống rượu say, họ không hề phàn nàn mà chỉ lặng lẽ tìm cách giải say cho chồng. Sau khi anh Quang đã lên giường ngủ, chị lại đến  bên bếp lửa ngồi cạnh chúng tôi. Lửa hồng khiến cho hai má chị Cấp ửng đỏ. Chị có một vẻ đẹp đằm thắm của miền sơn cước. Thời con gái chị cũng xinh vào bậc nhất nhì bản Khe Nghè này. Bà Ngọn chỉ cô con dâu: nó được cưới về nhà này cũng bằng hát Sịnh ca đấy. Chị Cấp về làm dâu nhà bà Ngọn đã 20 năm nhưng đến giờ vẫn giữ vẻ e thẹn như những ngày đầu mới về nhà chồng. Anh Quang trước đây cũng là một thanh niên tiến bộ của bản này. Tuổi 16, 17 anh vượt đèo vượt suối mấy chục cây số để đi học cấp ba. Khi ấy cả bản chỉ có anh đi học cao đến thế. Nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn buộc anh phải nghỉ giữa chừng. Đành ở nhà tiếp tục lầm lũi đi rừng lấy củi, săn thú, làm nương, tối tối cùng lũ trai bản đi chơi. Đối với thanh niên bản thì những đêm sáng trăng sao mà quý thế.

Chị Cấp nói với chúng tôi: “Trong đám trai bản, anh Quang hát hay nhất. Khi ấy anh Quang và các trai bản đã hát thế này:

Sừ san cốc lốc tộc làng ốc

Táy hợ mộc căn dì làng sày

Sát hợi mò pằng dì mò pun

Mò pẳng mò pun kít pông làu

(Rừng xanh đất đỏ cũng là nhà/Dưới bằng tập hợp thành làng xóm/Đi đường có bạn cũng đông vui/Có bạn đông vui kết bạn tình)

Tôi và các bạn nữ đối lại:

Sừ sun cốc lốc sì nình ốc

Tay hợ mộc căn sì nình chăn

Một lăm hợi lính sắt hành lù

Tồng làng hành lũ kít pông lằn

(Rừng xanh đất đỏ cũng nhà em/ Dưới bằng tập hợp thành làng em/ Một lòng đã muốn cùng nhau đã/ Cùng anh đi kết đôi bạn tình).

Nam hát:                          

Phông lằn háo cới háo phông lằn

Hành lù cặn nìn nằn cặn tắc

Nơi pạ mò lăm cỏng làng dằn

Một nhợt hành sừn tam nhợt lù

            (Thân anh đẹp lắm đẹp thân anh/ Đường dài cả năm không nói thật/ Chỉ sợ không tâm đi cùng anh/ Một ngày đi bằng ba ngày đò)

            Nữ hát:                           

Lời liu lời

Lời lin vằn phằng táu tu cới

Chăn sì vằn phằng pắt lời tắc

Mấy sì vằn phằng lời su lời

            (Xa thì xa/ Xa thì tình yêu ta lại gần/ Thực sự tình yêu không đợi được/ Không phải tình yêu xa thì xa)...

            Trong đêm sâu thẳm, tưởng như tiếng hát vút lên sua đi cái lạnh giá của núi rừng Khe Nghè. Qu câu hát, núi rừng Khe Nghè càng trở nên huyền diệu. Những khe suối nào mang dòng nước mát lành đến cho dân bản! Những vạt nương nào lúa căng trĩu hạt nuôi sống dân bản! Hẳn là ở đó còn ẩn chứa những câu ca mộc mạc, chân thành mà thiết tha. Những câu hát đã ru chúng tôi chìm vào giấc ngủ êm đềm.

            Những lời ca mộc mạc mà bền vững           

            Trong kho tàng dân ca của người Cao Lan ở Bắc Giang còn rất nhiều bài ca hát mừng năm mới, mừng đám cưới, hát phụng thần nông, phụng thổ công, hát chúc ở đình, hát mừng nhà mới... Họ hát ở nhà, ở chợ, hát trên đồi nương, trên rừng, trên rẫy, hát ngoài đường khi gặp nhau... Không bị lệ thuộc bởi những niêm luật khắt khe, cũng không bị ràng buộc bởi không gian, thời gian, lời ca Cao Lan được cất lên bất cứ lúc nào, nơi nào nếu họ thấy cái bụng mình muốn hát. Cứ tự nhiên như thế, những lời ca Cao Lan từ đời này sang đời khác đã được lưu truyền và gìn giữ. Nó sống trong lòng người Cao Lan, sống cùng bao niềm vui, nỗi buồn, bao nỗi nhọc nhằn hay niềm hạnh phúc. Dân ca Cao Lan có mặt trong đời sống sinh hoạt và trong lao động sản xuất của người Cao Lan. Chẳng biết làn điệu ấy có tự bao giờ, chỉ biết rằng rất lâu rồi người Cao Lan  không thể thiếu những lời ca tiếng hát ấy.

Mùng săn cao san xinh déo déo

Mùng lộc tiền tàng cúc chùng sày

Dăt thăm chựn mùng cúc chung háo

Sanh va kít chí rừng nhằn mằn

  (Trông lên đồi núi cỏ xanh lòe lòe/  Nhìn xuống cánh đồng đã cấy hết/  Nhất tâm mong sao lúa tốt đẹp/ Nở hoa chắc mẩy nuôi con người).

Hát giao duyên của người Cao Lan được sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Những cuộc hát sịnh ca giữa thanh niên nam nữ có thể kéo dài nhiều đêm, nhưng mỗi đêm lại có những đề tài riêng. Song nhìn chung những bài hát ở thể loại này đều nói lên tình yêu đôi lứa và ước vọng xây dựng một cuộc sống hạnh phúc. Những bài sịnh ca Thsao bạo (hát đối đáp hay hát giao duyên) được người Cao Lan yêu thích nhất. Đó là những bài hát có sẵn được lưu truyền trong dân tộc Cao Lan do các thanh niên nam nữ hát giao duyên với nhau. Nội dung những bài ca này thường là mượn cảnh thiên nhiên để hát về nhau, để hỏi thăm về gia cảnh, trao đổi tâm tình, thổ lộ niềm yêu thương, nhớ nhung, trách móc, hờn giận...

Nữ đối:

Hai hắu mờn

Hai hắu mờn nình thốc ná chău

Hai hawsu mờn nình thốc ná dinh

Pạo mòi sung mềnh cồng lang dằu

            (Em hỏi chàng/ Em hỏi rằng chàng ở thôn nào/ Em hỏi rằng chàng ở xóm nào/ Bảo tên cho em cùng chàng đi chơi)

Nam đáp:                      

Sằm san khốc lốc tóc làng ốc

Táy hờ moc căn toc làng chău

Sắt hợi mò pằng di mò pun

Mò pằng mò pun cái thăm sằu

(Nhà anh ở trong rừng sâu thẳm/Anh ở một mình dưới gốc cây chân đồi/Ra đi chẳng bầu cũng chẳng bạn/Chẳng bầu chẳng bạn cái tâm sầu)

Nam đối:

Sằn líu dằu

Dắt sằu cốc mơi sầu nhằn

Sam sằu di nà nìn lau liu

Sợi sằu mò dăn kết phông lầu

(Anh lo lắm nàng ơi/Anh không có gạo không có trâu/Bố mẹ anh tuổi đã già/Nay anh vẫn chưa có người yêu)

Nữ đối:

Mọc sứt sằn

Dắt sằu cốc mơi ngời sằu nhằu

Sằu cốc sằu nhằu nình ệnh háy

Làng sì sằu sung càng mòi dằu

(Chàng đừng lo/Chàng đừng lo không có gạo/Em sẽ ứng gạo, ứng trâu cho chàng/ Chàng không có bạn hãy cùng em đi)...

Cứ như thế, những lời đối đáp của nam nữ Cao Lan dài tới vài trăm câu. Họ có thể hát từ sáng tới chiều, từ hôm nay sang ngày mai mà không biết chán. Những làn điệu dân ca được cất lên tưởng như không bao giờ dứt. Sau những cuộc hát như thế, nhiều đôi trai gái đã phải lòng nhau rồi thành vợ thành chồng.

Người ta nói rằng: có lẽ thứ tồn tại lâu bền nhất với người Cao Lan chính là những bài hát Sịnh ca. Đó là kho tàng văn hóa sinh động phản ánh đời sống nội tâm vô cùng phong phú nhưng cũng hết sức mộc mạc, giản dị của người Cao Lan. Người ta chưa biết chính xác dân ca Cao Lan có từ bao giờ, nhưng chắc chắn nó đã được hình thành và phát triển từ trong lao động sản xuất, nhằm làm vơi nỗi vất vả nhọc nhằn, gắn kết cộng đồng thôn bản và vun đắp tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nó theo những buồn vui, trăn trở, đói no của người dân bản mà hình thành nên nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Cao Lan. Cùng với thời gian, dân ca Cao Lan đã, đang và sẽ sống mãi trong ước mơ và khát vọng của đồng bào Cao Lan.

Vân Hồng

 

;?>