• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 870256
  • Số người đang xem: 37
  • Trong ngày: 1117
  • Trong tuần: 51448
  • Trong tháng: 870209
  • Trong năm: 870256
Trang chủ

Tham quan Khu Di tích chùa Bổ Đà

( 08:31 | 12/09/2016 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Khu di tích chùa Bổ Đà là một danh lam cổ tự nổi tiếng của vùng Kinh Bắc xưa nay thuộc địa phận hành chính của xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Khu di tích toạ lạc ở vị trí đắc địa phong thuỷ, nằm về phía Bắc của chân núi Phượng Hoàng thuộc dãy núi Bổ Đà, xa xa là dòng sông Cầu thơ mộng. Với địa thế có sơn thuỷ hữu tình đã tạo nên mạch đất thiêng cho vùng đất nơi đây.

Cổ kính cổng chùa Bổ Đà. Ảnh: Quỳnh Thảo

Tương truyền chùa Bổ Đà có từ thời Lý, được tu bổ, tôn tạo và trở thành nổi tiếng vào thời Lê Trung Hưng, khi đó vua Lê Dụ Tông niên hiệu Bảo Thái 1720-1729, có vị quan tên là Phạm Kim Hưng quê ở làng Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, Hà Tây (nay thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội), sau khi từ quan về quê lập nghiệp đã vân du đến vùng đất Bổ Đà này, nghe các cao tăng giảng đạo và khi đắc đạo ông đã đem tất cả bổng lộc có được trong thời kỳ làm quan đem ra để trùng tu, mở mang di tích và chọn đây là nơi đào tạo các tăng đồ của thiền phái Lâm Tế. Trải qua thời gian với những thăng trầm của lịch sử, di tích đã nhiều tu bổ tôn tạo song ngôi chùa vẫn giữ được những giá trị lịch sử kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Qua 14 đời sư trụ trì đến nay ngôi chùa luôn được gìn giữ, bảo tồn và phát huy để trở thành 1 trong 2 chốn tổ lớn của tỉnh Bắc Giang. Chính vì vậy, trong dân gian vẫn lưu truyền rằng:

Thứ nhất là chùa Đức La

Thứ nhì chùa Bổ, thứ ba chùa Tràng

Hiện nay khu di tích chùa Bổ Đà gồm rất nhiều hạng mục lớn nhỏ, trong đó có 4 hạng mục chính, đó là chùa Cao, am Tam Đức, chùa Tứ Ân, vườn Tháp.

 Vườn tháp chùa Bổ Đà. Ảnh: Quỳnh Thảo

1. Chùa Cao-một ngôi chùa mang đầy dấu ấn huyền thoại gắn với lịch sử của di tích. Truyền thuyết kể lại rằng: Vào thời Lý ở trang Tiên Lát dưới chân núi Bổ Đà có một gia đình tiều phu nghèo, sống rất hiền lành tốt bụng được mọi người quý mến. Hiềm một nỗi hai vợ chồng đã ngoài tứ tuần mà vẫn chưa có mụn con nào. Một hôm, người chồng lên núi kiếm củi bỗng gặp một gốc thông già, ông giơ rìu bổ nhát thứ nhất thì trong gốc thông già bung ra một đồng tiền vàng. Sau đó ông nhắm mắt lại bổ liền một mạch và thu được 32 đồng tiền vàng. Ông bà đã cầu khẩn rằng: Nhược bằng Đức Phật Quan Âm ban cho chúng con một mụn con thì chúng sẽ lập chùa và tạc tượng để thờ. Quả nhiên điều đó được ứng nghiệm, đến kỳ người vợ sinh hạ một bé trai. Để tỏ lòng biết ơn với Phật Bà Quan Âm, vợ chồng tiều phu đã lập một gian chùa bằng đất và tạc một pho tượng Quan Âm để hương khói thờ phụng. Ngày tháng trôi qua người dân đến đây cầu khẩn với tấm lòng thành tâm đều được Đức Phật Quan Âm ban phước. Giá trị độc đáo chùa Cao thể hiện ở ý nghĩa tên gọi Bổ Đà bắt nguồn từ Phổ Đà trong phiên âm Hán Việt có nghĩa là Phật, Bụt trong tiếng Phạn; không giống những ngôi chùa khác là thờ nhiều tượng, từ trước đến nay chùa Cao chỉ thờ một pho tượng duy nhất đó là tượng Quan Âm Tống Tử. Điểm độc đáo nữa là chùa có nhiều tên gọi khác nhau như chùa Cao vì chùa toạ lạc trên độ cao của núi Phượng Hoàng, chùa Quán Âm, chùa Ông Bổ bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian, chùa Bổ Đà là lấy theo dãy núi Bổ Đà hùng vĩ.

2. Am Tam Đức, có lịch sử từ lâu đời. Trước đây chỉ có 3 gian nhỏ bằng gỗ. Đến thời vua Lê Dụ Tông, Phạm Kim Hưng sau khi vân du đến đây nghe các cao tăng giảng đạo trên chùa Cao và sau khi mộ đạo ông đã ở am Tam Đức để xuống học Phật tu đạo. Qua thời gian di tích đã bị phá huỷ trong kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Và những năm gần đây, nhân dân và nhà chùa đã hưng công xây dựng lại am Tam Đức trên nền đất cũ theo bố cục kiến trúc hình chữ Nhất ngang gồm 5 gian, 3 gian giữa xây kiểu chồng diêm bằng gỗ lim. Giá trị đặc sắc của am Tam Đức thể hiện ở ý nghĩa tên gọi: Am Tam Đức gồm 3 đức là Ân Đức, Đoạn Đức và Tri Đức (Tri đức hay còn gọi là quán đức nó có nghĩa là, người tu hành cần phải dùng trí huệ quán sát các pháp. Nhờ quán sát như thế, người tu hành mới tìm ra con đường giải thoát kiếp luân hồi. Đoạn đức là chỉ cho đoạn dứt hết các thứ vô minh phiền não lậu hoặc. Ân Đức là do nguyện lực của Phật và Bồ tát luôn luôn cứu độ chúng sanh. Người có ân đức là người luôn có tâm hồn rộng lượng bao dung tha thứ và làm lợi ích cho muôn loài.

Đây là Trung tâm đào tạo tăng đồ của Thiền phái Lâm Tế: Thiền phái Lâm Tế là do Thiền sư Nghĩa Huyền nhà Đường sáng lập và được Chuyết Công Hoà Thượng tên thật là Hải Trừng, tên huý là Viên Văn người làng Tiệm Sơn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa thuộc đời 34 của dòng Lâm Tế truyền vào Việt Nam vào cuối thế kỷ 17, sang thế kỷ 18 tư tưởng, nội dung của thiền phái Lâm Tế đã ảnh hưởng sâu rộng trong cả nước trong đó có ngôi chùa ảnh hưởng lớn ở vùng Kinh Bắc là chùa Bổ Đà (tỉnh Bắc Giang) và chùa Bảo Quang (tỉnh Bắc Ninh). Đặc điểm khác biệt của dòng Thiền Lâm Tế so với các dòng Thiền khác là bên cạnh ngồi tọa Thiền, dòng Thiền này còn đề cao phương thức tu hành theo lối công án (tức đặt ra những câu hỏi, câu trả lời) để đánh thức bản ngã. Đồng thời, dòng Thiền Lâm Tế còn chú trọng thi hành phép bổng yết (tức là gậy đánh và tiếng hét) coi đây là phương pháp tu hành rất hiệu quả.

Nét kiến trúc thuộc quần thể Di tích chùa Bổ Đà. Ảnh: Quỳnh Thảo

3. Tứ Ân là một trong những hạng mục chính của khu di tích chùa Bổ Đà. Chùa được xây dựng vào thời vua Lê Dụ Tông (thế kỷ 18) và được trùng tu tôn tạo vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX-XX) và những năm gần đây. Về tên gọi Tứ Ân là niềm tri ân đối với trời, đối với quốc gia, đối với cha mẹ và đối với thầy.chùa có bố cục kiến trúc theo kiểu nội thông ngoại bế (tức nhìn từ ngoài vào chùa được bao bọc bởi hệ thống lũy tre, hào chắn, tường trình bằng đất, bên trong gồm 16 toà ngang dãy dọc với hơn 90 gian liên hoàn cổ kính.Dấu ấn khác biệt của chùa Tứ Ân so với hệ thống các ngôi chùa cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam chính là thờ Tam giáo (gồm Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo). Ngoài ra, điểm đặc biệt của ngôi chùa chính là hệ thống tường trình bằng đất pha trộn với sỏi, các mảnh gốm Thổ Hà mang triết lý âm dương,ấm về mùa Đông và mát về mùa Hạ. Với chức năng là nơi đào luyện tăng đồ của Thiền phái Lâm Tế đến nay chùa Tứ Ân còn lưu giữ được gần 2000 mộc bản kinh Phật cổ bằng gỗ thị được san khắc từ năm 1740 và nhiều đời cao tăng sau này, như các đời sư Chiếu Không, Viên Lãng, Phổ Thuần, Phả Chiếu...Trên những tấm mộc bản đó, người xưa đã để lại dấu ấn qua nội dung, đường nét, họa tiết, hình khối điêu luyện và tinh xảo, phản ánh những tư tưởng, triết lý sâu xa của đạo Phật nói chung và dòng thiền Lâm Tế nói riêng. Trọng tâm của bộ kinh nói đến nỗi khổ của con người và sự giải thoát. Trong đó tiêu biểu nhất là Tứ Diệu Đế-4 chân lý kỳ diệu của đạo Phật gồm: Khổ Đế, Nhân Đế,Diệt Đế và Đạo Đế. Gồm các bộ kinh tiêu biểu như: Lăng nghiêm chính mạch, Yết ma hội bản, Nam hải ký quy...

4. Vườn Tháp-Nét đặc biệt hiếm có ở các ngôi chùa. Vườn Tháp chùa Bổ Đà là một trong những vườn tháp đẹp và lớn nhất trong cả nước gồm 110 ngôi tháp và mộ lớn nhỏ khác nhau. Trong đó, có 97 ngôi tháp cổ có lịch sử hàng trăm năm là nơi tàng lưu tro cốt xá lỵ nhục thân của trên 1000 tăng ni phật tử của Thiền phái Lâm Tế trong cả nước. Các ngôi tháp đều được xây bằng gạch và đá bằng kỹ thuật truyền thống bắt mạch vôi mật mía. Một trong những điểm độc đáo khác biệt ở vườn tháp mà chúng ta nhìn thấy đó là: Tất cả các tháp đều có cửa dạng cuốn vòm nhìn về hướng Đông Bắc.

Ngoài giá trị về văn hoá vật thể, chùa Bổ Đà là nơi sinh hoạt văn hoá, tôn giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian bản địa thờ Thạch Linh Thần Tướng tại Ao Miếu cùng các ngôi đền xung quanh biểu hiện sâu sắc trong lễ hội truyền thống. Đây là lễ hội có quy mô rộng lớn thu hút được nhiều làng, xã cùng tham gia, được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 16 đến hết ngày 18/2 âm lịch. Ngoài những nghithức rước, tế, dâng hương cúng Phật trang trọng,nhân dân còn tổ chức nhiều hoạt động diễn xướng dân gian và các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hoá vùng miền bên bờ Bắc sông Cầu. Điểm nhấn nổi bật là Liên hoan hát quan họ.Với những giá trị tiêu biểu, năm 1992,chùa Bổ Đà được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật.

Đăng Dương

 

 

 

;?>