• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3561783
  • Số người đang xem: 11
  • Trong ngày: 804
  • Trong tuần: 8960
  • Trong tháng: 266267
  • Trong năm: 3209560
Trang chủ

Di tích Xa Lâu Điện với ý nghĩa văn hoá truyền thống

( 11:18 | 06/01/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Xa Lâu điện (tức điện Xa Lâu) được dân gian quanh vùng quen gọi là Phủ Xe hay miếu vua Bà, di tích nằm ở Phùng ảm, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Làng ảm dưới thời Lê Trung hưng là xã Am Chương, thời Nguyễn đổi là Am Trứ thuộc huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc (sau là Bắc Ninh, Bắc Giang).

Làng ảm là một làng quê cổ kính còn bảo tồn di sản văn hóa với những công trình kiến trúc phản ánh sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng hay những công trình phúc lợi của cộng đồng như : đình làng, chùa Linh Khánh, chùa Lai, nghè Làng, lăng đá họ Nguyễn, Xa Lâu điện… Cùng tồn tại với các di tích ấy thì vốn văn hóa phi vật thể như :Lễ hội, phong tục- tập quán, các trò chơi dân gian những bài ca dao, hò, vè được cha ông sáng tạo thưở xưa nay vẫn được lưu truyền, duy trì và phát huy giá trị. Ngoài tiết xuân thu nhị kỳ dân làng tế lễ ở đình làng thì Xa Lâu điện là trung tâm tín ngưỡng thu hút đông đảo du khách thập phương trong những ngày sóc vọng. Đây là di tích từng nổi danh ở vùng quê xứ Bắc từ lâu đời. Dân gian vùng Yên Dũng - Việt Yên (Bắc Giang ) còn lưu truyền câu phương ngôn :

Thứ nhất Phủ Xe

Thứ nhì nghè Nếnh

Phủ Xe như đã biết, chính là tên Nôm của  Xa Lâu điện. Nghè Nếnh là di tích nằm ở thôn Ninh Khánh, nhưng là của 6 xã vùng Nếnh khi xưa (Khánh Ninh, Yên Ninh, Lai Ninh, Mật Ninh, Liên Hồ, Đông Minh) xây dựng từ thế kỷ 16 - 17 để phụng thờ đức thánh Tam Giang. Đến năm Giáp Dần niên hiệu Đức Nguyên nguyên niên (1674) có người ở xã Như Thiết cùng huyện là Hán Quận công Thân Công Tài làm quan Đô Đốc các xứ Kinh Bắc, Lạng Sơn đã công đức cho địa phương 100 mẫu ruộng, 7 xâu tiền, 700 quan để trùng tu tôn tạo nghè Nếnh. Từ đó nghè Nếnh thờ phối hưởng cả Hán Quận công Thân Công Tài. Tương truyền nghè Nếnh rất linh thiêng và là công trình tín ngưỡng của cả tổng Mật Ninh cho nên lễ hội rất lớn nổi tiếng khắp vùng.

Còn ở Phủ Xe (Xa Lâu điện) vào năm Bính Dần niên hiệu Dương Đức thứ 2 (1673) có một số vị quan cao chức trọng ở triều đình đã về đây công đức tiền ruộng để nhân dân trùng tu, tôn tạo Xa Lâu điện, số tiền có tới hàng trăm quan, ruộng tới hơn 70 mẫu. Phủ Xe cũng nổi tiếng linh thiêng và đã trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa cả vùng biết đến. Cho nên câu phương ngôn "Thứ nhất Phủ Xe, thứ nhì nghè Nếnh" là muốn ca ngợi tấm lòng công đức lớn lao của các vị quan lại phong kiến với quê hương, đồng thời phản ánh quy mô sự ảnh hưởng rộng rãi của hai di tích này tới đời sống tín ngưỡng trong vùng, thêm nữa có lẽ còn hàm ý so sánh về sự linh thiêng của Phủ Xe và nghè Nếnh.

Hiện nay chưa có tài liệu nào nhắc tới thời gian khởi dựng Xa Lâu điện. Căn cứ vào truyền thuyết và các nhân vật được thờ phụng ở đây cùng bài văn bia còn lưu lại ở di tích giúp chúng tôi đoán định nó được khởi dựng khoảng thời gian đầu thế kỷ 16. Có lẽ ban đầu di tích có quy mô kiến trúc nhỏ bé, đến năm 1668 với sự công đức lớn lao của các vị quan lại di tích mới được mở rộng và có qui mô lớn. Tương truyền thuở mới khởi dựng Xa Lâu điện nhìn theo hướng đông bắc qua chiếc cầu Sấu bắc qua sông Am rồi thẳng nhìn theo phía Ba Đa - Quán Cháo (nay thuộc Tân Mỹ cùng huyện) nơi ấy có ruộng đồng làng Am, đàn bà con gái trong làng đi cấy không được quay lưng về điện mà phải quay đầu về để thể hiện sự thành kính. Các quan viên sở tại thấy việc kiêng kị đó gây nhiều phiền toái cho dân nên khi trùng tu năm 1686 đã đổi hướng Xa Lâu điện như địa thế hiện nay. Sau khi trùng tu, tôn tạo Xa Lâu điện có bình đồ kiến trúc hình chữ vương gồm 3 tòa kiến trúc chính : Tiền tế, Trung đường và Thượng điện. Tòa Tiền tế 5 gian 2 chái cùng kiểu thức kiến trúc với tòa Trung đường. Hai tòa này kết cấu kiến trúc kiểu thượng con chồng, hạ kẻ đón có nhiều mảng chạm khắc cầu kỳ, tinh tế. Sau cùng là tòa Thượng điện kiến trúc kiểu chồng diêm thượng thu hạ thách, 8 mái, 8 đầu đao uy nghiêm mà thoáng đãng, thanh thoát. Tòa Tiền tế không xây tường mà để thoáng. Tòa Trung đường xây 2 hồi. Tòa Thượng điện 1 gian 2 chái xây tường bao chắc chắn, đẹp mắt mục đích tạo ra sự giao hòa giữa âm với dương, trời với đất.

Theo lệ làng thời phong kiến thì điện này bao giờ cũng có một ông từ ở tại địên do dân làng cử ra để sớm hôm hương khói, nhưng khi Xa Lâu địên bị tàn phá (tháng 9 năm 1950) thì lệ này không được duy trì.

Năm 1998, ý thức được ý nghĩa của Xa Lâu điện với đời sống tín ngưỡng của dân làng, hơn nữa để duy trì, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, người dân quê Am đã gom góp sức người, sức của phục hồi di tích Xa Lâu điện theo nguyên dạng thuở xưa, đồng thời xây thêm một tam môn uy nghi, dáng vẻ cổ kính ở cổng điện. Ngay sau khi công trình khánh thành thì dân làng cũng đồng thời tái mở hội điện Xa Lâu theo nghi thức cổ truyền. Rồi liên tiếp từ đó (1998) đến nay năm nào làng cũng mở hội lớn và đã thu hút được đông đảo khách thập phương về trẩy hội.

Nhưng qua gần năm mươi năm hoang tàn trở thành phế tích đồ thờ, tài liệu liên quan đến di tích cũng đều bị mất mát thất truyền, trong đó có bản sự tích ghi về các nhân vật được phụng thờ ở di tích này. Cho nên khi mở hội hay tế lễ những ngày sự lệ dân làng chỉ biết khấn cúng chung chung về một vị vua bà mà chẳng rõ sự tích ra sao. Chúng tôi đã về khảo sát điền dã tại địa phương, tìm gặp những vị cao niên nhưng chẳng ai còn nhớ được sự tích các vị được thờ ở di tích này. Tra cứu các sách về danh mục thần sắc, thần tích ở các cơ quan lưu trữ nhà nước như : Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Viện Thông tin Khoa học xã hội, Thư viện Quốc gia nhưng đều vô vọng. Có tài liệu chỉ nhắc đến vị thành hoàng ở đình làng qua các đạo sắc phong là đức thánh Quý Minh đại vương chứ không có của Xa Lâu điện.

Vậy nhân vật được phụng thờ ở Xa Lâu điện là ai ? Sự nghiệp và hành trang như thế nào là vấn đề được nhân dân làng Am quan tâm đặc biệt và là nỗi niềm băn khoăn của những người làm công tác trong ngành văn hóa địa phương.

Đi tìm nhân vật được thờ ở đây trong khi các nguồn tư liệu thư tịch đã thất truyền nên chúng tôi phải mầy mò tìm đọc những thông tin từ những tấm bia đá bị mờ mòn còn lưu lại trong làng. Rất may khi đọc tấm bia "Tu Xa Lâu điện bi ký" (bài ký bia sửa điện Xa Lâu) tuy mờ mòn mất nhiều chữ nhưng có một số thông tin về các nhân vật được thờ ở đây. Khi in dập lấy thác bản thì số chữ đọc được đã khá hơn và đủ để chúng tôi xác định được những nhân vật đó.

Văn bia do Nguyễn Văn Thực, sinh năm 1631, người làng Đại Bái, huyện Gia Định (nay là làng Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) thi đỗ Thám hoa khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1659) làm quan đến chức Thượng thư bộ Binh, Nhập Nội kinh diên soạn văn).

Qua văn bia được biết Xa Lâu điện phụng thờ: Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Tông (giỗ ngày 20 tháng 7) và con gái thứ 8 của bà là Thái trưởng công chúa Lê Thị Ngọc Kế (giỗ ngày 16 tháng 2) cùng quan Tư Đồ kiểm điểm Hoa Phong hầu Phạm Đức Hóa (giỗ ngày 10 tháng 5).

Cũng qua văn bia, được biết ở Xa Lâu điện thờ ba vị chính ngôi : Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Tông, công chúa Lê Thị Ngọc Kế, Hoa Phong hầu Phạm Đức Hoá.

Xa Lâu điện là nơi tôn thờ các danh nhân lịch sử văn hoá của đất nước nói chung, quê hương Bắc Giang nói riêng. Di tích này có ý nghĩa rất lơnbs lao đối với việc tôn vinh, giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc, nên cần được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các cấp chính quyền./.

Nguyễn Văn Việt

;?>