• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4301152
  • Số người đang xem: 22
  • Trong ngày: 3927
  • Trong tuần: 38313
  • Trong tháng: 468909
  • Trong năm: 3948929
Trang chủ

Văn hóa truyền thống vùng Kế

( 11:56 | 06/01/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Kế là tên nôm để chỉ làng Thượng Trù của xã Dĩnh Kế. Vì là làng lớn nên Dĩnh Kế vừa là tên xã, vừa là tên tổng một thời. Cho nên nói đến Kế, người ta muốn chỉ cả một vùng văn hóa rộng lớn thuộc tổng Dĩnh Kế xưa.

Theo các tài liệu lịch sử cho biết, xã Dĩnh Kế xưa thuộc huyện Kê Từ quận Giao Chỉ, đến thời Lý - Trần nằm trong huyện Long Nhãn, thuộc Lạng Châu lộ Bắc Giang, cuối đời Lê, nằm trong tổng Dĩnh Kế, huyện Phượng Nhỡn, Phủ Lạng Giang trấn Kinh Bắc. Đến đầu thế kỷ XX, huyện Phượng Nhỡn giải tán, Dĩnh Kế về huyện Bảo Lộc, sau huyện này lại đổi là Phất Lộc rồi Phủ Lạng Giang. Cách mạng tháng tám - 1945 thành công, tổng Dĩnh Kế trở thành liên xã. Dĩnh Kế thuộc huyện Lạng Giang. Quyết định số 130 - HĐBT ngày 3/5/1985 của Hội đồng Bộ trưởng, tách xã Dĩnh Kế thuộc huyện Lạng Giang về thị xã Bắc Giang, gồm 4 thôn làng cổ: Thượng Trù (Kế), Phú Mỹ (Mé), Vĩnh Ninh và Thanh Lương (Lường). Nghị định số 33-1999/NĐ-CP ngày 18/5/1999 của Chính phủ tách thôn Vĩnh Ninh xã Dĩnh Kế để thành lập phường Hoàng Văn Thụ, phường mới thuộc thành phố Bắc Giang. Trong quá trình lịch sử, xã Dĩnh Kế và tổng Dĩnh Kế xưa có thay đổi nhưng về văn hóa không hề bị chia tách. Do nằm ở vị trí trung tâm nơi giao lưu với nhiều vùng miền trong tỉnh, Dĩnh Kế có nhiều đường giao thông huyết mạch chạy qua, có trung tâm thương mại sầm uất (chợ Kế) từ xưa nên Dĩnh Kế có những nét văn hóa riêng ở trong vùng.

Về di tích, Dĩnh Kế có Nghè Cả, đình Vĩnh Ninh là những di tích lịch sử tiêu biểu đã được xếp hạng cấp quốc gia. Dĩnh Kế còn là quê hương của các nhà khoa bảng ở trong vùng, nên xưa Dĩnh Kế còn xây dựng văn chỉ để tôn thờ các vị tiên hiền là những nhà khoa bảng, như trạng nguyên Giáp Hải, tiến sỹ Giáp Lễ, tiến sỹ Nguyễn Duy Năng…

Gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa là các phong tục tập quán và các lễ hội ở địa phương. Đầu năm tháng Giêng, đúng vào giao thừa, các làng làm lễ quan hành khiển và lễ động thổ với mong muốn dân làng làm ăn một năm mới thuận lợi, mùa màng tươi tốt, dân an vật thịnh. Xưa các làng ở Kế, mỗi năm dân cử 1 người làm thủ phiên để lo việc trông coi đình và lo lễ vật cho dân cúng lễ thành hoàng. Ngay từ chiều 30, ông thủ phiên đã phải sắm sửa lễ vật cho dân. Đúng giao thừa, ông thủ phiên làm lễ quan hành khiển và lễ động thổ, sau đó cụ thượng thay mặt dân ra sau đình cuốc 3 nhát xuống ruộng, mở đầu một năm làm ruộng của dân làng. Từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 3 tết, làng tổ chức mỗi ngày 1 tuần tế thánh ở đình. Lễ vật có xôi, gà, oản quả.

Ngày mùng 4 tết là ngày hội chùa Kế. Đó là sinh hoạt của Phật giáo, của tăng ni phật tử và khách thập phương tại chùa Đồng Nghiêm (chùa Kế) – một trung tâm phật giáo lớn của huyện Phượng Nhỡn xưa.

Ngày 20 tháng Giêng là ngày lễ hội lớn, lễ hội đình làng Vĩnh Ninh. Ngày này, ngoài việc tế thánh còn là ngày việc làng thường nguyên. Làng tổ chức lễ hội trong 2 hoặc 3 ngày. Buổi tối có hát chèo, hát ả đào, hát ví… ở đình.

Việc hội lệ đình đám của dân làng được giao cho các bàn (bàn xôn, bàn sai, bàn thịt, bàn rượu…) đảm nhiệm.

Ngày 18/2 cả 7 giáp của Dĩnh Kế tổ chức tế lễ ở nhà thờ quan trạng Giáp Hải. Nghi thức này phản ánh sự tôn sùng, ngưỡng vọng tài năng của quan trạng Giáp Hải, đồng thời thể hiện truyền thống văn hiến, hiếu học của người dân địa phương.

Ngày 20/2 dân toàn xã họp bàn việc tổ chức lễ hội kế tại đình hàng xã. Nếu làng quyết định mở hội vào ngày 15/3 thì các giáp cắt cử người tham gia và bắt đầu tập luyện ngay. Thường thì năm nào được mùa, dân thôn phấn khởi, thì dân làng mới mở hội lớn.

Ngày 15/3 toàn xã mở hội. Đây là ngày đại kỳ phước của dân xã, thể hiện lòng sùng kính ngưỡng vọng của mọi người đối với thành hoàng Cao Sơn - Quý Minh, mà trung tâm thờ tự ở Nghè Cả. Ngày này, các làng rước kiệu đặt bài vị đức thánh về Nghè Cả tổ chức hành lễ, tế tự. Lễ hội được tổ chức uy nghiêm trang trọng. Ngoài việc rước, Kế tự lễ hội còn tổ chức nhiều trò chơi hấp dẫn, thu hút quý khác xa gần, trở thành ngày hội lớn cả vùng.

Đồn rằng hội Kế tháng ba

Không đi xem hội cũng già mất thân.

Ngày 1/4 có tiết hạ điền, các giáp mang lễ vật xôi gà tập trung ở đình hàng xã để làm lễ hạ điền. Dân làng bắt đầu xuống đồng cày cấy, trồng trọt và cầu mong làm ăn thuận hòa, mùa màng tươi tốt.

Ngày 20/7 có tiết thượng điền, cả xã tập trung tế lễ ở đình hàng xã đồng thời tổ chức kéo ngựa, kéo chữ “Thiên hạ thái bình” “Quốc thái dân an”.

Ngày 1/9 việc làng “Xuân thu nhị kỳ” mừng cơm mới, mở cửa đình, tế quan thần nông. Ngày này có tế thánh, hát sân đình, hát chèo, ả đào, hát ví…

Các tiết lệ, cũng như các công việc chung của làng xã được mọi người tự giác tham gia theo đúng chức năng vị trí của mỗi thành viên trong làng, trong họ, trong giáp. Góp vào việc duy trì và điều chỉnh các hoạt động, mối quan hệ theo trật tự tôn ty của làng là lệ khoán ước của làng xã. Các thiết chế tổ chức và khoán ước của làng Kế thật sự chặt chẽ đảm bảo cho làng xã này tồn tại bền vững theo dòng thời gian với bao biến cố lịch sử.

Chợ Kế có từ  lâu đời. Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Chợ Dĩnh Kế ở huyện Phượng Nhỡn gần sông Nhật Đức quán xá đông, hàng hóa nhiều, là một chợ lớn trong tỉnh”. Không chỉ là trung tâm buôn bán sầm uất từ xưa đến nay của địa phương, chợ Kế còn là trung tâm buôn bán của cả một vùng rộng lớn. Từ xưa, chợ Kế không những đã thu hút bạn hàng khắp các vùng miền trong tỉnh mà còn cả vùng đồng bằng sông Hồng, như: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình cũng lên họp. Chợ có riêng nơi bán trâu bò, gia cầm, gia súc, ngoài ra còn có các loại lâm sản gỗ quý, thóc gạo và thực phẩm. Lái trâu, lái gỗ ở địa phương họp thành phường lặn lội khắp các vùng Lục Nam, Lục ngạn, Phổng, Mẹt (Hữu Lũng) Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng để tạo nguồn hàng. Trong các mặt hàng có món quà quê là bánh đa, bánh đúc được nhiều người ưa thích, trở thành nổi tiếng. Tấm bia tam bảo thị còn lại ở miếu bà chúa chợ Kế cho biết: Chợ Kế ra đời từ thời Lê; một cung nữ có tên là Ngô Thị Thóc có công lập chợ và xin nhà nước cho lập chợ Kế thành chợ Chùa, sau khi bà mất, được tôn làm chúa chợ. Cũng tấm bia này khẳng định: “Chợ chùa Đống Nghiêm (Kế) phong cảnh đẹp có thể xếp hàng thứ ba. Đó là phúc đức của ta…”.  Hương ước của Dĩnh Kế biên soạn thời Tự Đức có tới 27 điều liên quan đến chợ Kế và bảy phố chợ. Phố có phố trưởng, chợ có chợ trưởng, chúa chợ. “Hàng năm nhân có việc phụng sự thì phải kính lễ tam vị đại vương trạng nguyên Giáp Hải, tiến sỹ Giáp Lễ, hậu thần tự Phúc Chính và bốn vị chúa chợ: Nguyễn Minh Phái, Nguyễn Thị Chuyên, Đồng Phương Quế, Nguyễn Thị Hữu” (Điều 40). Để cho chợ phiên đông đúc thu được nhiều lợi thì “Bàn xã hàng năm vào ngày 28/2 làm lễ các vị chúa chợ” (điều 8).

Những năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân, Dĩnh Kế đã đồng tâm hợp lực, đóng góp tiền của sức người vào việc tu bổ lại đình, nghè, đền, chùa xây lại chợ mới khang trang trên vị trí chợ xưa, tổ chức lại lễ hội truyền thống, duy trì những thuần phong mỹ tục nhằm xây dựng làng quê ngày càng giầu có, văn minh, đậm bản sắc vùng miền của quê hương.

Nguyễn Xuân Cần

;?>