• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4337662
  • Số người đang xem: 49
  • Trong ngày: 5197
  • Trong tuần: 22816
  • Trong tháng: 1898427
  • Trong năm: 4337662
Trang chủ

Giá trị kho mộc bản chùa Bổ Đà

( 11:04 | 10/03/2017 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Chùa Bổ Đà là một ngôi cổ tự có lịch sử từ rất lâu đời và được mở mang phát triển mạnh ở thế kỷ XVII-XVIII với các hạng mục công trình chính như: chùa Tứ Ân, am Tam Đức, chùa Cao (chùa Quán Âm, chùa Bổ Đà, chùa Ông Bổ), khu Vườn Tháp. Di tích chùa Bổ Đà tọa lạc dưới chân núi Bổ Đà, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đây là một trung tâm Phật giáo lớn của huyện tỉnh Bắc Giang, một chốn tổ của Thiền phái Lâm Tế ở thời Lê Trung Hưng. Ngôi chùa với tổng số gần 100 gian lớn nhỏ với quy mô rộng lớn này còn là nơi đào tạo các vị sư tăng của dòng Thiền Lâm Tế có lịch sử lâu đời của Phật giáo Việt Nam và được truyền thừa qua nhiều thế hệ. Đặc biệt, đây còn là nơi khắc in và lưu trữ nguồn thư tịch cổ Việt Nam khá phong phú qua các triều đại phong kiến.

Trải qua nhiều thế kỷ đến nay, chùa Bổ Đà vẫn là nơi tàng lưu một kho tàng di sản văn hoá quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm: hệ thống tượng thờ theo quy chuẩn hệ thống tượng chùa miền Bắc, hệ thống văn bia (5 bia), hệ thống chuông đồng (3 chuông) cơ bản được soạn khắc ở giai đoạn thời Nguyễn ghi lại lịch sử phát triển của trung tâm Phật giáo Bổ Đà, hệ thống hoành phi - câu đối, đồ thờ ... Đặc biệt là kho mộc bản kinh Phật và những thư tịch khác do các vị sư phái Lâm Tế tổ chức san khắc ở thời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) và nhiều đời cao tăng sau này. Di sản này không chỉ là báu vật của đất nước mà còn là tài sản văn hoá chung của cộng đồng các dân tộc ở khu vực  Châu Á và trên thế giới. Tiêu biểu có các bộ kinh Lăng Nghiêm Chính Mạch, Yết Ma Hội Bản, Nam Hải Ký Quy… Những ván kinh khổ lớn ở đây còn in, khắc các sớ , điệp dùng vào việc tiến hành các nghi lễ trong nhà chùa  hoặc để in áo cho các vị thiền sư. Trên những tấm mộc bản đó, người xưa đã để lại dấu ấn qua nội dung, đường nét, họa tiết, hình khối điêu luyện và tinh xảo, phản ánh những tư tưởng, triết lý sâu xa của đạo Phật nói chung và dòng thiền Lâm Tế nói riêng, nổi bật trong số đó là hình khắc Đức Phật Tổ Như Lai, Phật Thích Ca tọa trên đài sen, Quan Thế Âm Bồ Tát, các vị La Hán…các họa tiết này mang lại giá trị thẩm mỹ cao, nét đẹp hài hòa giữa chữ và tranh, nó góp phần làm tăng thêm ý nghĩa  Phật giáo và có tác động trực diện đến việc truyền thụ và tiếp nhận Phật giáo.

Các Mộc bản chùa Bổ Đà. Ảnh: Trường Giang

Với những giá trị nội hàm vốn có, chùa Bổ Đà đã được Bộ Văn hoá ra quyết định xếp hạng là Di tích Kiến trúc nghệ thuật Quốc gia theo quyết định số 138/QĐ ngày 31 tháng 1 năm 1992. Trong nhiều năm trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu, đã tìm về Bổ Đà để xem xét, nghiên cứu, phát huy những giá trị của kho mộc bản ở một số lĩnh vực khác nhau. Từ đó khiến cho tư tưởng, giáo lý của Phật phái  Lâm Tế luôn được các thế hệ người Việt Nam gìn giữ, truyền dạy lại và ngày càng phát triển mở rộng, hoà nhịp với cuộc sống đương đại.

Đánh giá được tầm quan trọng lớn lao của kho mộc bản, năm 2014, Sở Văn hoá-Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý di tích tỉnh tiến hành in dập lấy thác bản của toàn bộ số lượng mộc bản tàng trữ tại chùa Bổ Đà. Đồng thời kiểm kê, phân loại đầu sách, lược dịch lấy nội dung của những tác phẩm kinh, sách tiêu biểu trong kho mộc bản. Sau một thời gian làm việc tích cực, đoàn kiểm kê đã đưa ra được số liệu thống kê tổng hợp toàn bộ kho mộc bản tại chùa Bổ Đà. Cụ thể, kho mộc bản có số lượng khoảng 2.000mộc bản, với nhiều loại văn bản như: kinh, sớ, điệp, ván lục thù, bùa chú…. các ván khắc ở đây cũng có ván 1 mặt in, ván 1 mặt 2 trang , ván 2 mặt 2 trang, ván 2 mặt 4 trang; có ván rất to, là sớ điệp truyền giới hoặc bộ ván “Lục thù hải hội” (dùng trong tín ngưỡng chôn cất người chết). Căn cứ kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia thuộc Đại học KHXH&NV và Viện Nghiên cứu Hán -Nôm, bước đầu đã phân loại, sắp xếp kho mộc bản chùa Bổ Đà bao gồm 18 bộ kinh, sách chính, cụ thể như sau:

1. Chư kinh nhật tụng: Bao gồm các bản chú Đại bi, vãng sinh tịnh độ thần chú, Cảnh sách, Di Đà, Kim cương kinh… nội dung cũng gồm Bát nhã tâm kinh cùng nhiều bài chú nhỏ, các các câu chú nhỏ…

Đây là bản nhật tụng đặc biệt của chùa Bổ Đà, mà nội dung có nhiều dị biệt với các bản khác lưu truyền ở Việt Nam. Hiện nay, trụ trì  chùa Bổ Đà vẫn thường in ván bộ kinh này để ấn tống cúng dàng chư tăng cũng như các pháp hội.

2. Hộ Pháp luận:Nội dung chính có 3 bài tựa và phần Hán văn do Trương Thương Anh thời Tống soạn. Bản diễn Nôm, chữ nhỏ hơn phía sau. Phần dịch Nôm do Đại lão Hòa thượng Phúc Điền thiền sư-thuộc dòng Lâm Tế, ở chùa Đại Giác làng Bồ Sơn-Bắc Ninh, từng kế đăng trụ trì chùa Liên Phái diễn âm chữ Nôm. Cuối sách có phần hậu bạt, dẫn sự tích của sách.  

Khắc in năm Tự Đức thứ 16 (1863, Sách gồm 140 trang)

3. Lăng nghiêm chính mạch:Bộ sách đủ 10 quyển, phân làm sách Thượng-Trung-Hạ. Lần in đầu tiên năm 1738, được Tĩnh Quảng Thích Điều Điều viết lời tựa. Lần in sau, 1841, tại chùa Bổ Đà, sa môn Tuệ Không chùa Bổ Đà viết lời tựa. Sách bao gồm 1278 trang, ván khắc còn đủ, có cả bàn in giấy dó lưu ở chùa Bổ Đà.

4. Nam Hải kí quy nội pháp truyện:Sách gồm 4 quyển. Ngoài ra còn phần Yết ma nam hải kí quy Phương Danh. Tất cả còn 244 trang, nội dung gần đủ.  Người chỉ đạo in khắc là thiền sư Thanh Hanh của chùa Vĩnh Nghiêm. Sách do Nghĩa Tịnh thời Đường sáng tác, có nội dung là câu chuyện vượt biển sang Ấn Độ cầupháp. Ông dẫn ghi chép lại lịch trình đi lại trên biển, qua các nước và về Đại Đường.

Khắc in năm Bảo Đại thứ 5 (1930)

5. Ngũ gia tông phái:Không rõ niên đại và người viết, người soạn, có 36 trang. Nội dung ghi lịch sử 5 tông phái Phật giáo: Vô Môn, Lâm Tế, Tào Động truyền vào Việt Nam. Chú trọng đến Lâm Tế và Tào Động ở Việt Nam.

6. Phật tâm luận: Sách do Tuệ Không ở chùa Bổ Đà biên soạn năm 1881, gồm 140 trang. Nội dung sách bàn luận về Phật tâm, Phật và tâm, trong mối tương quan kinh tạng Phật giáo.

7. Quốc âm ngũ giới:Không rõ năm khắc, sách gồm 10 trang. Sách được Như Như Trừng Trừng ở chùa Liên phái viết, bản khắc và bản in ở chùa Bổ Đà.

8. Quy nguyên trực chỉ:In năm Minh Mệnh thứ 3 (1823). Gồm 3 quyển, 494 trang. Nội dung ghi lại các bài giảng đạo của các chư tổ Trung Hoa. Đây là bản in lại sách của Trung Quốc.

9. Sa di ni uy nghi:Không rõ năm khắc, có 14 trang in. Đây là sách chữ Nôm, hình thức thơ lục bát, do Tử Tầm sơn Tính Quảng Thích Điều Điều, một đại lão hòa thượng cuối thế kỷ XVIII soạn. Sách có nội dung răn dạy các ni sư khi bước vào cửa Phật.

10. Sa di quốc âm: Không rõ năm khắc, có 10 trang. Sách do Như Như, đệ tử của Chân Nguyên, khai sinh chùa Liên Phái diễn âm, chuyển thể thơ lục bát. Như Như tức Như Trừng Lân giác. Nội dung răn dạy các sa di, tăng nhân khi tu hành cần tuân thủ theo. Đây là giới luật cơ bản.

11. Sự lí dung thông:Không rõ năm khắc, có 12 trang in. Sách này là sách chữ Nôm, có hình thức là thơ song thất lục bát, tương truyền là Chân Nguyên dịch soạn sang Nôm. Đến nay các bản đều không có chứng cớ về tác giả.

12. Tây phương công cứ:Không ghi năm khắc in, gồm 2 quyển.

Hiện còn 110 trang. Đây là sách luận bộ sách in nguyên văn từ văn bản Tục Đại tạng kinh. Tây phương chỉ cõi Tịnh độ. Có thể nói đây là kinh cơ bản của Tịnh Độ tông, trong tương quan Thiền Tịnh Mật của Phật giáo miền Bắc. Sách được Bành Tế Thanh biên soạn thời Thanh, sách tập hợp các lời răn dạy của tiền nhân với việc tu hành Tịnh Độ niệm Phật được vãng sinh.

13. Tây phương hợp luận:Không ghi năm khắc. Sách gồm 10 quyển. Hiện nay ván bị mất mát gần hết, chỉ còn lại một số ở các quyển và rời rạc khó nối vào nhau. Tổng số trang của ván khắc hiện nay còn là 302 trang. Đây là sách luận, do Viên Hoằng Đạo thời Minh biên soạn.

14. Thiền lâm bảo huấn: Khắc in năm Tự Đức 12 (1859). Sách gồm 4 quyển, chia làm 2 tập. Tập 1 gồm 2 quyển 1 và 2; tập 2 gồm quyển 3 và 4. Sách do Phúc Điền hòa thượng diễn quốc âm(chữ Nôm) từ bản Hán văn Thiền lâm bảo huấn được biên soạn vào thời Tống ghi chép lại lời các tổ trong thời Tống về trước… Nội dung kinh bản, cứ 1 đoạn chữ Hán lại có một đoạn chữ Nôm.

15. Thủy lục chư khoa:Không rõ năm khắc in. Sách còn không đầy đủ, hiện còn được 178 trang, bao gồm các khoa nhỏ như:

- Thỉnh Phật khoa

- Thí thực khoa

- Tiếp linh khoa

- Thập cúng khoa

- Phát tấu khoa

- Nghinh sư khoa

- Giải kết khoa

- Lễ Phật nghi

- Chúc thực khoa

16. Tứ phần luật:Khắc in năm Bảo Đại thứ 7 (1932). Người cho san khắc: Thiền sư Thanh Hanh, gồm 5 quyển, chia các phần nhỏ, tất cả có 3512 trang. Đây là bộ luật được dùng trong nhà chùa, rất quan trọng. Hiện sách còn khá đầy đủ, bao gồm cả các bài tựa, các phần hậu bổ. Tứ phần luật là bộ Yết ma chú sớ, được Thích Đạo Tuyên thời Đường nhuận bút.

17. Uy nghi quốc âm:Không rõ năm khắc, gồm 22 trang in. Nội dung sách diễn giải bằng hình thức thơ lục bát để mọi người dễ thuộc, dễ nhớ các nghi thức của người tu hành. Văn bản do Như Thị hòa thượng Tính Ánh-người có công khai sơn chùa Bổ Đà diễn Nôm. Ông cũng thuộc dòng Lâm Tế tông ở miền Bắc, từ Chân Nguyên thiền sư.

18. Vạn thiện đồng quy:Văn bản do Hải Luật Thích San San cho san khắc cuối thời Cảnh Hưng thứ 36 (1785). Sách gồm 6 quyển, còn tựa, dẫn, tính tất cả 396 trang. Có thể coi đây là bộ sách còn đầy đủ. Sách này do Trí Giác biên soạn thời Minh.

Theo tìm hiểu thực tế, các mộc bản này đều được khắc trên vật liệu là gỗ thị. Đây là loại gỗ quý với đặc tính mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong vênh, khó nứt vỡ rất phù hợp với việc khắc ván in. Chữ trên các mộc bản đều được dùng bằng chữ Hán và Nôm. Chữ khắc ngược (âm bản) để khi in ra giấy sẽ trở thành chữ xuôi. Sách được đóng, sử dụng theo truyền thống của người phương Đông (đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới). Kích thước các mộc bản đều có khổ trung bình là 20-30cm x 30-45cm x 2-3cm. Do đã qua nhiều lần in dập nên các ván in đều có màu đen bóng, bề mặt phủ một lớp dầu mực in khá dày. Lớp dầu mực thấm vào gỗ có tác dụng chống thấm nước, ẩm mốc, mối mọt rất hiệu quả. Đa phần các mộc bản được khắc trên 2 mặt, kiểu chữ chân phương, sắc nét. Mỗi mặt là hai trang sách. Nhiều trang được khắc đan xen thêm những hình minh hoạ với bố cục chặt chẽ, hài hoà, đường nét tinh tế. Vì vậy, mỗi mộc bản còn được coi như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ hoàn chỉnh. Mỗi bản in trong kho mộc bản còn xứng đáng là tác phẩm đồ hoạ đẹp.

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Lê Khánh Hải kiểm tra công tác lưu giữ Mộc bản chùa Bổ Đà. Ảnh: Trường Giang

Theo các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, các mộc bản chùa Bổ Đà được coi là bộ sưu tập mộc bản kinh sách Phật cổ nhất hiện còn được lưu giữ về thiền phái Lâm Tế- một trong những thiền phái tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam. Qua quá trình tiếp xúc, lược đọc lấy nội dung cơ bản của kho mộc bản chùa Bổ Đà, những người làm công tác nghiên cứu bảo tồn, bảo tàng Bắc Giang đã nhận định sơ bộ về giá trị nội dung kho mộc bản như sau:

- Giá trị lịch sử: Qua kho mộc bản chùa Bổ Đà cho ta thấy một thời kỳ phát triển Phật giáo ở vùng đất xứ Bắc và rộng hơn là đại diện cho sự phát triển Phật giáo nước ta giai đoạn thế kỷ XVIII, đồng thời kho mộc bản này đã ghi lại những quan điểm, triết lý của Phật giáo trong tiến trình lịch sử tồn tại và lưu truyền của nó. Chùa Bổ Đà là một trong những trung tâm Phật giáo ở Việt Nam từ Phật giáo Trúc Lâm thời Trần đến Phật phái Lâm Tế thời Lê và nhất là thời kỳ chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu thế kỷ thứ XX. Đây cũng là nơi kế truyền các vị tổ sư khai trường thuyết pháp đào tạp các tăng ni; đồng thời còn là nơi san khắc, in ấn kinh luật để hoằng dương Phật pháp. Kho mộc bản hiện còn lưu ở chùa là di sản văn hóa có giá trị lớn về lịch sử, văn hóa xã hội cũng như hoạt động tôn giáo ở nước ta trong lịch sử. Qua đó, ta cũng biết thêm lịch sử nghề in, khắc mộc bản ở Việt Nam thời kỳ Trung đại. Nó đánh dấu quá trình phát triển của hệ thống văn tự Việt Nam chuyển từ chỗ sử dụng chủ yếu chữ Hán (Trung Quốc) sang sử dụng chữ Nôm (chữ do người Việt Nam sáng tạo ra để ghi âm tiếng Việt). Bên cạnh đó, kho mộc bản cũng đánh dấu quá trình phát triển ngành in ấn ở Việt Nam được tính từ thời Lê do Thám hoa Nhữ Hộc sau hai lần đi sứ phương Bắc (1443 và năm 1449) đã đem nghề in mộc bản học được ở Trung Quốc về dạy cho dân vùng Hồng Lục (nay là 3 làng Thanh Liễu-Liễu Chàng-Khuê Liễu của tỉnh Hải Dương).

- Giá trị văn hóa: Từ góc nhìn văn hóa, ta thấy Phật giáo Lâm Tế có những đóng góp xứng đáng vào kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Mộc bản chữ Nôm ở chùa Bổ Đà là di sản tư liệu đánh dấu quá trình phát triển của hệ thống văn tự Nôm qua các thời đại. Việc khắc in mộc bản với chữ Nôm không chỉ thể hiện ý thức độc lập, tự chủ của dân tộc ta trong quá trình tiếp biến văn hóa mà còn là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của hệ thống văn tự Việt Nam. Về nghệ thuật thư pháp cũng được thể hiện ở các mộc bản Bổ Đà qua bàn tay các nghệ nhân khắc bằng chữ Hán và chữ Nôm với nhiều kiểu chữ khác nhau: chân thư, thảo thư, lệ thư, hành thư…. Chữ khắc đẹp xứng đáng là những tác phẩm thư pháp nghệ thuật tuyệt mỹ. Nhiều trang mộc bản được các nghệ nhân xưa khắc đan xen thêm những bức họa đồ minh họa, đường nét tài hoa, tinh tế, bố cục chặt chẽ hài hòa xứng đáng là tác phẩm đồ học có giá trị thẩm mỹ cao.

 - Giá trị tôn giáo: Qua kho mộc bản Bổ Đà cho ta thấy, trên cơ sở tiếp thu, lĩnh hội Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, người Việt Nam đã có sự tiếp nhận những tinh hoa Phật một cách chủ động, phù hợp với tâm thức văn hóa của mình, từ đó dung hòa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa tạo ra một tư tưởng và cách sinh hoạt Phật giáo mang màu sắc Việt Nam rất rõ, điều này được thể hiện từ những hình ảnh sống động, tư tưởng Phật giáo Quan Thế Âm Bổ Tát và các giới trong kho mộc bản chùa Bổ Đà. Đây là hình ảnh, tư tưởng Phật giáo mang đậm dấu ấn của văn hóa Việt Nam. Các bộ kinh tiêu biểu ở chùa Bổ Đà như: Lăng Nghiêm Chính Mạch, Yết Ma Hội Bản, Nam Hải Ký Quy… Nội dung chính của các bộ kinh Phật phản ánh những triết lý sâu xa của đạo Phật nói chung và dòng thiền Lâm Tế nói riêng. Trọng tâm ở một số ván kinh nói đến nỗi khổ của con người và sự giải thoát. Trong đó tiêu biểu nhất là Tứ Diệu Đế- 4 chân lý kỳ diệu của đạo Phật gồm: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. Một số ván kinh khắc khác lại chủ yếu nói về Quan Thế Âm Bổ Tát. Bên cạnh đó, còn là hệ thống sách các khoa cúng mang hình thái tín ngưỡng ứng phó văn hóa cũng được san khắc lưu hành. Các khoa cúng này đến nay vẫn hiện hành. Hoặc ván khắc Lục thù để ứng phó việc tang ma, không chỉ Bổ Đà mà đa phần các chùa chiền miền Bắc đều có, hoặc các sách chú Mật tông như: Đại bi, Lăng nghiêm… đều từ tu hành đến tín ngưỡng. Sau này do ảnh hưởng của dòng thiền Lâm Tế nên các nhà sư đã cho khắc những bộ kinh đi sâu nghiên cứu về thiền. Nhìn chung mục đích của các bộ kinh nhằm thuyết giảng và truyền lại những giáo lý cơ bản của quá trình tu hành theo Phật phái Lâm Tế.

Qua những giá trị cơ bản của chùa Bổ Đà cho thấy, kho mộc bản chùa Bổ Đà là bảo vật quý hiếm của quốc gia Việt Nam. Tổng tập “mộc bản kinh, sách Hán Nôm” này chính là những tác phẩm lớn chứa đựng nội dung cốt lõi của tư tưởng nhân văn Việt Nam. Đây cũng là nguồn di sản tư liệu phong phú, đa lĩnh vực giúp các nhà nghiên cứu hiểu được cơ sở phát triển của Thiền học Lâm Tế, lịch sử Phật giáo Việt Nam, văn hoá giáo dục, văn học, ngôn ngữ học, sinh thái môi trường, tâm linh học, lịch sử nghề khắc in mộc bản, nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ truyền cùng các lĩnh vực khác thuộc về khoa học xã hội của Việt Nam.

 Trong bối cảnh toàn cầu hoá, đa văn hoá của nhân loại hiện nay, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của kho mộc bản Bổ Đà đóng một vai trò quan trọng. Việc này không chỉ giáo dục ý thức giữ gìn văn hoá truyền thống của dân tộc Việt mà còn giúp cho cộng đồng các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á, Châu Á bảo tồn nét văn hoá phương Đông trong quá trình thế giới cùng hội nhập và phát triển. Đồng thời những tư tưởng nhân văn của thiền phái Lâm Tế đã đưa vị thế của Phật giáoViệt Nam ngày càng lên cao trong khu vực.

Phùng Thị Mai Anh

 

 

 

 

;?>