• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 495075
  • Số người đang xem: 31
  • Trong ngày: 1817
  • Trong tuần: 23152
  • Trong tháng: 142852
  • Trong năm: 142852
Trang chủ

Bắc Giang có thêm hai bảo vật quốc gia năm 2017

( 08:22 | 28/12/2017 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

1. Mộc bản chùa Bổ Đà

Đây là bộ sưu tập mộc bản quý giá gồm 1935 tấm mộc bản bằng gỗ thị được san khắc chủ yếu trong giai đoạn thời Lê (thế ký XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX và XX) với hình thức thể hiện độc đáo, mang tính độc bản và mang giá trị nhiều mặt.

Về hình dáng, mộc bản có hình chữ nhật, kích thước các mộc bản không đồng đều tuỳ theo từng bộ kinh/sách mà có độ lớn nhỏ khác nhau. Bản khắc lớn nhất là các loại sớ điệp truyền giới, lục thù hải hội (dùng trong tín ngưỡng chôn cất người chết) có chiều dài tới 150cm, rộng 30-40cm, những bản nhỏ dài khoảng 27cm, rộng 16cm, dầy 2,2cm nhưng phần lớn mộc bản có kích cỡ trung bình là dài 45cm, rộng 22cm và dày 2,5cm hoặc dài 60 cm rộng 25cm, dày 2,5cm. Cá biệt có một số mộc bản có kích thước rất nhỏ với chiều dài chỉ khoảng 8 đến 10cm, rộng 5cm và độ dày 2cm. Do đã qua nhiều lần in dập nên các mộc bản đều có màu đen bóng, bề mặt phủ một lớp dầu mực in khá dày. Trong điều kiện bảo quản mang tính tự nhiên trước đây, lớp mực bám dày này có tác dụng chống thấm nước và mối mọt rất hiệu quả. Chính vì vậy, hiện nay số mộc bản chùa Bổ Đà cơ bản vẫn nguyên vẹn, một số ít mộc bản vị cong vênh, nứt; một số bị nấm mốc do điều kiện khí hậu và thời tiết.

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Lê Khánh Hải kiểm tra công tác bảo quản mộc bản tại chùa Bổ Đà. Ảnh: Trường Giang

Đa phần các mộc bản được khắc trên 2 mặt, chỉ một số nhỏ khoảng vài chục ván khắc 1 mặt. Mỗi mặt là hai trang sách. Nhiều trang được khắc đan xen thêm những hình minh họa với bố cục chặt chẽ, hài hoà, đường nét tinh tế. Vì vậy, mỗi mộc bản còn được coi như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ hoàn chỉnh. Mỗi bản in trong kho mộc bản còn xứng đáng là tác phẩm đồ hoạ đẹp. Chữ khắc trên mộc bản là chữ Hán cổ và chữ Nôm (số rất ít khắc xen cài chữ Phạn). Chữ được khắc ngược trên mặt ván, phần lớn là kiểu chữ chân phương dễ đọc, đường nét mềm mại và đẹp được khắc sâu (khoảng 1-1,5mm) nên bản in ra giấy dó rất sắc nét.

Thông qua tìm hiểu, thống kê mộc bản chùa Bổ Đà cho thấy, mộc bản tại đây phần lớn là các bộ kinh và bộ luật lớn được lưu truyền rộng rãi trong giới nhà Phật, trong đó tiêu biểu có một số bộ kinh, sách có giá trị như: A Di Đà kinh, Bát Nhã kinh, Kim Cương kinh, Phổ môn kinh, kinh Lăng Nghiêm, Vạn thiện đồng quy, Yết ma hội bản, Nam hải kí quy…hoặc những sớ điệp, ván lục thù, bùa chú dùng vào việc thực hành nghi lễ thờ cúng ở chùa, cùng sách liên quan đến lễ nghi phụng Phật và cúng tổ như: Thỉnh Phật khoa, Thập cúng khoa, Phát nguyện khoa, Cúng tổ sư khoa, Tây phương hợp luận, Phật tâm luận…những văn bản này đều được chùa Bổ Đà biên soạn theo lối riêng, mang tính chất đặc biệt của chùa và Thiền phái Lâm Tế thế kỉ XVIII về sau ở miền Bắc.

Qua nghiên cứu tổng thề về mộc bản chùa Bổ Đà cho thấy, đây là một trong những bảo vật quý hiếm của quốc gia Việt Nam. Nó có tầm vóc to lớn và mang giá trị tổng hợp trở thành một bảo vật tôn vinh sự hưng thịnh của Phật giáo, nó vừa mang giá trị tôn giáo, lại vừa mang các giá trị giáo dục, giá trị thẩm mỹ, giá trị ngôn ngữ, giá trị lịch sử, giá trị văn hóa hết sức đặc sắc. Những giá trị ấy vừa có hình thù, hoa văn họa tiết, ván khắc chữ viết để chúng ta chiêm ngưỡng được một cách trực diện bằng thị giác. Tuy nhiên, bên cạnh đó, kho mộc bản này còn có giá trị vô hình chúng ta không thể tiếp nhận một cách trực diện được, mà phải nhìn nó bằng cái nhìn bên trong, sự hiện hữu vô hình của kho mộc bản đã tác động rất lớn đến sự tồn tại, phát triển của Phật giáo và văn hóa Phật giáo ở nước ta. Đặc biệt là sự phát triển của Thiền phái Lâm Tế ở chốn tổ Bổ Đà.

2. Bia hộp đá thời Mạc ở thôn Đồi Cốc

Đây là một trong những tấm bia có giá trị tiêu biểu, độc đáo có liên quan đến sự nghiệp của một danh nhân tiêu biểu của đất nước. Đó là Trạng nguyên Giáp Hải- người con ưu tú của quê hương Bắc Giang. Bia dựng năm Kỷ Dậu, niên hiệu Cảnh Lịch  (1549). Đây là tấm bia hộp, có hai nửa ốp vào nhau gồm hai phần: Phần bia và phần nắp đậy. Nắp đậy có kích cỡ 72cm x 49cm x 16cm, xung quanh để diềm nổi 3,5cm. Lòng đục sâu 3,5cm. Phần bề mặt tạo tác lồi 3cm, xung quanh diềm đục gờ sâu 3,5cm. Nội dung bia khắc toàn văn chữ Hán Nôm. Chữ Hán khắc trên nắp bia ghi: “Mộ của Khánh Sơn tiên sinh, họ Giáp”. Được tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, hàm Thái bảo triều Mạc”. Phần chính văn có tiêu đề: “Tiên khảo Thái bảo Giáp phủ quân mộ chí”. 

Mộc bản chùa Bổ Đà. Ảnh: Trường Giang

Đây là hiện vật có giá trị đặc biệt, có hình thức độc đáo có thể được gọi là sách đá và được nhân dân địa phương gìn giữ trân trọng coi như một báu vật. Thông qua nội dung tấm bia đã cung cấp nhiều thông tin chính xác, bổ ích về một danh nhân lịch sử tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, góp phần bổ khuyết cho chính sử và các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn về thân thế Trạng nguyên Giáp Hải-một nhân vật lịch sử nổi tiếng, một nhà văn hóa lỗi lạc của thời Mạc.

Với những giá trị tiêu biểu nhiều mặt, ngày 25 tháng 12 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2089/QĐ-TTg về việc công nhận bảo vật quốc gia (đợt 6) năm 2017 cho 24 hiện vật, nhóm hiện vật trong đó tỉnh bắc Giang vinh dự có hai hiện vật đó là: Bia hộp đá Đồi Cốc thời Mạc (niên đại 1549, hiện lưu giữ tại đền thờ Trạng nguyên Giáp Hải, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và mộc bản chùa Bổ Đà (niên đại: Giữa thế kỷ XVIII-XIX-XX, hiện lưu giữ tại chùa Bổ Đà, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang).

Phùng Thị Mai Anh

 

 

;?>