• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4504610
  • Số người đang xem: 25
  • Trong ngày: 741
  • Trong tuần: 35902
  • Trong tháng: 672367
  • Trong năm: 4152387
Trang chủ

Người Nùng xã Hồng Kỳ, huyện Yên Thế ăn Tết

( 16:16 | 24/02/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Hồng Kỳ là một xã miền núi thuộc huyện Yên Thế. Từ huyện lỵ Yên Thế theo đường liên xã vào Hồng Kỳ khoảng 4 km; Xã có 5 thôn là Trại Nhất, Trại Nhì, Trại Ba, Đồng Nghĩa và Trại Hồng.

 

Là một xã có nhiều thành phần dân tộc, nhưng dân tộc Nùng chiếm số lượng chủ yếu. Trong đó, thôn Trại Hồng có 827 nhân khẩu (với 200 hộ dân thì chỉ có 5 hộ có người Kinh nhưng lại là người Kinh lấy vợ Nùng, chiếm hơn 95% dân số), thôn Trại Ba có 810 nhân khẩu (với 194 hộ thì có 175 hộ là dân tộc Nùng chiếm hơn 90% dân số), thôn Trại Nhì có 978 khẩu (với 247 hộ thì có 237 hộ là dân tộc Nùng chiếm gần 95 % dân số), hai thôn Trại Nhất và Đồng Nghĩa số lượng người Nùng cũng chiếm khoảng 1/4 – 1/5 dân số trong thôn. Người Nùng nơi đây đều có nguồn gốc ở tỉnh Lạng Sơn, tuy nhiên ở mỗi thôn hay mỗi nhóm người Nùng (Hồng Kỳ có nhóm Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Giang…) lại có gốc ở mỗi địa phương khác nhau của tỉnh Lạng Sơn. Người Nùng Giang chuyển từ Chi Lăng xuống đây, người Nùng Phàn Sình có nguồn gốc ở Cao Lộc - Lộc Bình, người Nùng Cháo từ Tràng Định, Thất Khê chuyển xuống. Các cụ cao niên trong xã kể lại rằng, từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, do loạn lạc đói kém, các bậc cha ông đã di cư khỏi vùng Lạng Sơn để tìm một vùng đất mới; đến địa điểm xã Hồng Kỳ, thấy vùng đất này rộng rãi, cư dân thưa thớt, đồng thời vị trí địa lý, cảnh quan thiên nhiên cũng hợp với điều kiện cư trú của tộc người mình nên đã quyết định định cư lại nơi đây. “Đất lành chim đậu”, mới đầu chỉ có vài gia đình thưa thớt ở rải rác trên mỗi quả đồi, nay cư dân ở xã Hồng Kỳ đã có mật độ dân số khá đông, trong đó thành phần dân tộc Nùng chiếm số lượng nhiều nhất. Cũng như đồng bào dân tộc Nùng nói chung, người Nùng ở xã Hồng Kỳ có những nét phong tục tập quán mang đậm bản sắc của dân tộc mình; trong đó, việc ăn Tết Nguyên đán là một tập tục khá độc đáo phải kể đến.

Tết Nguyên Đán chính là dịp để mọi người tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà, bố mẹ, người thân đã mất. Đồng thời cũng là thời điểm khởi đầu cho một năm mới với những lời cầu khấn sẽ có một năm gặp nhiều may mắn, lúa thóc đầy bồ, ngô khoai đầy nhà; gà, lợn, trâu bò đầy đàn không bị dịch bệnh; mọi người trong nhà làm ăn tấn tới, ai ai cũng đều khoẻ mạnh… Trong những ngày này, bà con gói bánh chưng dài, thịt gà trống thiến, một vài nhà cùng nhau chung một con lợn để thịt ăn. Đồng bào chuẩn bị ăn Tết từ những ngày đầu của tháng Chạp. Nhà nào cũng chuẩn bị nấu rượu, gạo nếp, đỗ xanh, lá dong gói bánh, măng khô, miến, nấm hương, mọc nhĩ… Nhà nào có gà, lợn sẵn thì không sao, nhà nào không có phải tích cóp tiền bạc để mua gà và hỏi một vài gia đình ruột thịt hay hàng xóm làng giềng thân thiết có lợn to xin đụng lợn. Những người phụ nữ đảm đang trong nhà bắt đầu công việc gói bánh chưng từ ngày 27 tháng Chạp. Bà con dân tộc Nùng thường gói bánh chưng dài chứ không gói bánh chưng vuông như người Kinh. Khi nồi bánh chưng đang đỏ lửa, mọi người trong gia đình sẽ cùng nhau dọn dẹp nhà cửa, dán giấy đỏ ở khắp mọi nơi trong nhà. Giấy đỏ có hình chữ nhật to bằng, hoặc to hơn bàn tay một chút. Những chỗ thường dán là:ở dưới bàn thờ, trên cửa nhà, cửa bếp, cửa chuồng gia súc, gia cầm, cây rơm… Mỗi chỗ dán từ 3-7 tờ. Đồng bào quan niệm rằng: giấy đỏ được dán lên là mọi đều may mắn sẽ đến trong năm mới này. Việc thịt lợn cũng được chuẩn bị muộn nhất là vào đầu giờ chiều ngày 30 Tết. Những nhà đụng lợn sẽ phân công nhau: người đun nước, người bắt lợn, người chọc tiết, làm thịt và chia thịt… Riêng bộ lòng tiết thì để tại nhà gia chủ có lợn để cùng nhau tổ chức một bữa cơm tất niên thân mật. Thịt lợn được chế biến thành rất nhiều món khác nhau để ăn từ tối 30 cho đến hết ngày 15 tháng Giêng. Những miếng thịt nạc ngon được thái chỉ, ướp gia vị để làm nhân cho các loại bánh chưng, làm nem chua hay rán khô ướp muối hoặc gói kín treo lên khi nào lấy xuống thái ra là có thể ăn được ngay. Xương còn lại được ninh kỹ để nấu măng hay su hào ăn trong 3 ngày tết.

Theo phong tục của người Nùng, những người quá cố chỉ thờ cúng trong 100 ngày đêm chứ không có giỗ. Chỉ vào những dịp tết, gia đình mới thỉnh về để ăn tết cùng con cháu. Vì thế, vào ngày 30 tết, mọi gia đình đều làm cỗ cúng tổ tiên, mời tổ tiên cùng về ăn tết với con cháu để cầu xin tổ tiên phù hộ cho con cháu gặp những điều tốt lành. Sáng mồng 1 tết, đồng bào cúng tổ tiên và ông Táo bằng xôi gà hoặc thịt lợn. Ngày mồng 1 Tết, bà con còn kiêng quét nhà, họ quan niệm rằng nếu quét rác ra khỏi nhà vào ngày mồng 1 Tết thì mọi điều may mắn trong năm cũng hết sạch theo.

Những gia đình sống quây quần gần nhau thường xây dựng chung một ngôi miếu thờ Thổ địa. Trong ngày đầu năm, nam giới trong gia đình sẽ ra miếu cúng. Đặc biệt, thôn Trại Hồng có tục lệ cúng Thổ địa độc đáo, vào buổi sáng hôm mùng một Tết (Lễ páy thổ) ở khu đền thờ thổ địa. Mỗi gia đình sẽ sắp một mâm lễ đến cúng. Lễ vật bao giờ cũng có: một con gà trống thiến luộc thật to, một bát thịt lợn xào, một bát rau, một bát miến, một bơ gạo, hai chiếc bánh chưng, bánh kẹo, một chai rượu trắng. Đại diện của từng gia đình, thường là ông nội, bố và con trai cả sẽ đặt mâm lễ ở trong và trước khu đền thờ thổ địa. Khi dân làng tề tựu đầy đủ, thầy cúng của thôn sẽ tiến hành lễ cúng. Mục đích của lễ cúng là cầu mong những điều an lành sẽ đến với dân làng trong cả năm. Trong lúc thầy đang cúng, tất cả mọi người phải thành tâm cầu khấn theo. Khi thầy cúng xong, hương tàn dân làng vui vẻ cùng nhau hạ lễ và ăn bánh kẹo uống rượu chúc tụng nhau. Riêng bánh chưng, gà trống thiến, bơ gạo sẽ mang về nhà, không ăn ngay ở đó. Bơ gạo mang về được vãi cho gà ăn với ý nghĩa khi gà được ăn chỗ gạo cúng này thì sẽ sinh sôi nảy nở, không bị dịch bệnh. Gia đình nào năm đó có con gà trống thiến luộc to nhất, đẹp nhất làng sẽ rất tự hào, vinh dự. Trong buổi lễ, bà con sẽ có dịp gặp gỡ, trao đổi, truyền đạt mọi kinh nghiệm trong cuộc sống, trong sản xuất gieo trồng, chăm sóc vật nuôi… Và ai ai cũng thầm mong lễ cúng thổ địa năm sau có nhiều niềm vui để chia sẻ với mọi người hơn.

Cũng từ ngày mồng 2 Tết, đồng bào mới đi chúc tết những người có quan hệ họ hàng, thông gia và những người bà con, bạn bè thân thiết và thăm hỏi nhau. Công việc thăm hỏi và chúc tụng này kéo dài cho đến hết ngày 15 tháng Giêng âm lịch. Việc chúc sức khoẻ trong dịp tết Nguyên đán của người Nùng được thực hiện theo nguyên tắc là: con, cháu phải mang bánh chưng, thịt lợn, gà trống thiến…đến nhà bố mẹ vợ, ông bà ngoại để làm cỗ bày cúng tổ tiên và chúc sức khoẻ mọi người trong nhà. Chủ nhà được chúc tết phải tổ chức một bữa ăn và cho con cháu một ít tiền để mừng tuổi.

Những người trong họ nội đến chúc tết nhau không mang theo lễ vật. Tuy vậy, người ta cũng có thể đến ăn uống hoặc ít nhất là uống rượu mừng nhau. Trẻ em được tiền mừng tuổi.

Từ ngày mồng 3 Tết trở đi, các thanh niên nam nữ sẽ tổ chức thành từng nhóm rủ nhau đi các nơi để chúc Tết và hát sli - lượn. Lời ca tiếng hát ngân nga khắp nơi, nó báo hiệu một năm mới đã đến và chứa đựng bao ước nguyện về mọi điều may mắn sung túc no đủ cho cuộc sống cũng như chứa chan thấm đượm những khát khao về tình yêu đôi lứa của các nam thanh nữ tú dân tộc Nùng, xã Hồng Kỳ, huyện Yên Thế!

Vi Thị Tỉnh

;?>