• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5037351
  • Số người đang xem: 13
  • Trong ngày: 2000
  • Trong tuần: 24030
  • Trong tháng: 1205108
  • Trong năm: 4685128
Trang chủ

Mùa xuân với câu hát Ả Đào

( 16:23 | 24/02/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Cũng là may mắn và vinh dự, ở Bắc Giang chúng ta còn giữ lại được hai tư liệu quý để đưa vào hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Ca trù là di sản phi vật thể của nhân loại, đó là bức tranh cô gái chơi đàn Đáy bằng chất liệu sơn mài tại đình Lỗ Hạnh, huyện Hiệp Hoà và tấm bia đá Đổi lệ hát Ca trù ở đình Thổ Hà huyện Việt Yên. Đây là tư liệu vô cùng có giá trị về mặt khẳng định lịch sử của Ca trù ở Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung.

Nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát, Giáo sư Trần Văn Khê cùng nhiều nhà nghiên cứu Ca trù trong và ngoài nước đã có công khai thác, nghiên cứu Ca trù, và nhiều câu lạc bộ Ca trù đã được các nghệ nhân truyền dạy mà Ca trù đã được hồi sinh. Ngày 30/9/2009, chính thức Ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhận loại cần được bảo vệ khẩn cấp. Vậy là Ả đào là vốn quý của đất nước được tái sinh và gây sự chú ý rộng rãi trong nhân dân và đặc biệt là giới nhạc sỹ, ca nương và nhiều người yêu thích Ả đào. Thời gian qua đi, nhưng may mắn thay hồn dân tộc với môn nghệ thuật truyền thống thuần Việt, thanh tao và độc đáo này còn được lưu giữ. Sự hiện diện của nhiều nghệ nhân tài năng, xuất sắc như  nghệ sỹ nhân dân Quách Thị Hồ, nghệ nhân Nguyễn Thị Phúc, nghệ sỹ ưu tú Kim Đức, nghệ sỹ đàn đáy Kim Khắc Ban… Cách đây không xa, cố nghệ sỹ nhân dân Quách Thị Hồ đã được nhận tấm bằng cao quý của UNESCO trao tặng. Đây là sự công nhận của quốc tế đầu tiên dành cho hát Ả đào, để hôm nay niềm vinh dự ấy không chỉ riêng bà mà bà là người có công truyền dạy để Ca trù Việt Nam được vinh danh là loại hình văn hoá phi vật thể của nhân loại v.v..

Đã được nghe Ca trù, say đắm với Ả đào thì bên tai ta lúc nào cùng văng vẳng những câu, những điệu hát nói, đưa thư, tỳ bà…hát ru, miễu, xẩm, huê tình ...

Ả đào có nhiều tên gọi khác nhau như: Ca trù, Cô đầu, hát nhà Tơ, hát nhà trò… Hát nhà Tơ, hát nhà Trò được thể hiện ở các không gian trình diễn khác nhau. Khi hát trong các dinh thự, cung đình, ở dinh tuần phủ gọi là phiên ti,  hát trong dinh quan án sát gọi là niết ti. Chữ “Ti”  đọc chệch thành chữ “tơ” mới có tên hát nhà tơ. Còn hát nhà trò là hát ở cửa đình có liên quan đến múa như múa bài bông, múa tứ linh. Còn tên Ả đào, Cô Đầu để chỉ người hát, người nghệ nhân Ca trù. Theo Ngô Thì Sáng vào thời Lý Thái Tổ, có người tên là Đào Thị tài nghệ hơn người được vua ban thưởng. Người đời sau tôn vinh làm đào nương. Còn theo Quận công Dư Tiếp Kế thì Ả đào là tên cô ca sĩ họ Đào quê ở làng Đào Đặng huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, vì có công giết được nhiều giặc Minh nên khi nàng qua đời, dân làng nhớ ơn lập đền thờ và đặt tên làng cô là làng Ả đào.

Trong các tên gọi như trên thì cái tên Ca trù mang tính bao hàm nhất thể hiện rõ  luật lệ như: Thưởng tiền được đánh dấu bằng thẻ tre gọi là Trù. Lệ này có từ lâu. Khi hát ở của đình, các quan viên ngồi hai bên, một bên đánh trống, một bên đánh chiêng. Câu nào đào hát hay bên trống gõ một tiếng “Chát”, bên chiêng gõ đáp lại thì người hát được thưởng một trù (thẻ tre), tương đương với số tiền mà luật hát đã quy định.

Ca trù có 3 lối hát là: Hát đình, hát chơi và hát thi. Hát chơi và hát thi là hai lối hát thể hiện sự phong phú của Ca trù. Hát chơi mang nội dung trữ tình, gần gũi với tình cảm riêng tư. Hát thi là cơ hội để các đào, kép thi thố tài năng. Còn lối hát cửa đình là lối hát thờ thần, nội dung ca ngợi công đức, sự tích danh nhân. Ca trù xưa hát trong cung nhà Lê gọi là nữ nhạc hát hay cửa quyền. Vì thế, Ca trù phát triển thành nghệ thuật diễn xướng chuyên nghiệp, sớm xây dựng được cấu trúc âm nhạc, được gọi là “âm luật”. Nhiều “âm luật” ra đời từ thời Hồng Đức (Thế kỷ XV), vẫn  còn đến ngày nay, như: Cung bắc, đại thực, hát tầng (nay là xướng tầng), thiết nhạc, Hà Nam. Ca trù được tổ chức hát rất chặt chẽ, trong cung có Quan Thái Thường, ngoài dân gian có quản giáp lo luyện tập. Người làm nghề rất trung thành với giáo phường. Đời Hồng Đức thứ hai (1471) vua Lê Thánh Tông còn đặt ra chức Quan Ty để trông coi các giáo phường.

Hát Ca trù và sáng tạo nghệ thuật ca trù là rất khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian, tài năng công phu. Cây đàn đáy trong Ca trù là một xuất thần trong sáng tạo thuần Việt. Gọi là đáy, có thể vì là nó không có đáy để thoát âm, cũng có thể là chữ “đới” mà đọc chệch sang chữ “đáy”. Đới là dây đeo đàn mà mọi người chơi đàn đáy để đứng đánh cho đỡ mỏi. Đàn có 3 dây, dây âm thấp nhất là dây dài (hò), dây giữa là dây trung (xàng), dây cao gọi là dây tiếu (phàn). Đàn Đáy âm đục, trầm, ấm thanh tao và sâu lắng, nghe rất gần mà cảm như  vẳng xa. Còn xênh gõ lên phách tạo nhịp dưới đôi tay tài nghệ của người hát, tiếng sắc nhọn, lách cách như  một mảng màu nóng tương phản, đối lập nhưng lại hài hoà. Bản hoà sắc của Ca trù sẽ trở nên không đầy đủ, nếu thiếu âm của trống chầu. Người đánh trống chầu không phải là nhạc công mà là Quan viên. Quan viên đánh trống gọi là cầm chầu. Cầm chầu là chấm câu văn hay, hát hay. Chỗ ngắt phách thì đánh vào mặt trống chỗ nào hay thì gõ vào tang trống nghe cắc, để thưởng. Như vậy, người cầm chầu gọi là giám khảo. Người hát và đàn là thí sinh.

Đối với hát Ca trù, nghệ thuật ca hát chỉ dành riêng cho ca nương (là nữ) với những tố chất tự nhiên, mềm mại, sáng nhưng không mỏng manh, dày nhưng không đặc nó luôn luôn bay bổng hoà vào nền của phách, của âm trầm nhấn nhá của tiếng đàn đáy và âm điểm của trống chầu, tạo nên một bản hoà ca hấp dẫn diệu kỳ, làm cho trong một không gian yên tĩnh người nghe bị hút hồn ngay từ câu hát đầu tiên bởi giọng ca khéo léo trong veo của ca nương với các thể hát: (Bắc Phản, miễu, hát nói, gửi thư, đọc thơ, tỳ bà, ả phiền, hát giải, non nai, hồng hạnh, hồng hồng, tuyết tuyết) trong các thể loại ca trù: hát cửa đình, hát cửa quyền, hát nhà tơ.

Chúng ta có thể thấy rằng, Ca trù là một thể loại âm nhạc rất đặc biệt trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, đã tồn tại hàng ngàn năm với ngôn ngữ thi ca diễn xướng độc đáo trong đời sống  văn hoá tinh thần của người Việt Nam. Mặc dù dã có lúc mai một và tưởng chừng bị mất đi theo thời gian, năm tháng, nhưng nay Ca trù một nét đẹp văn hoá Việt Nam lại được thổi hồn bằng một luồng gió mới. Luồng gió ấy đã thổi bùng ngọn lửa âm ỉ hàng ngàn năm, để hôm nay sức sống ấy của Ca trù không phải chỉ ở mỗi làng, mỗi xóm, mỗi câu lạc bộ ở làng quê hay chốn thị thành mà đang là sức sống nghệ thuật của cả dân tộc Việt Nam góp phần vào sự phong phú, đa dạng, phồn vinh của nền âm nhạc thế giới và nhân loại.

Chắc chắn mùa xuân này, không chỉ ở Bắc Giang mà Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nghệ An… tiếng ca vang, ấm của ca nương, những điệu múa bài bông, múa tứ linh, tiếng trầm, tiếng bổng của âm thanh đàn đáy, tiếng tom, chát của trống chầu lại vang lên ở mỗi của đình, trong ngày hội xuân và ở mỗi câu lạc bộ sẽ làm say đắm lòng người./.

Hà Trang

 

;?>