• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5059348
  • Số người đang xem: 16
  • Trong ngày: 275
  • Trong tuần: 13854
  • Trong tháng: 1227105
  • Trong năm: 4707125
Trang chủ

Những mốc son lịch sử diễn ra năm Dần trên quê hương Bắc Giang

( 09:48 | 25/02/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Năm Nhâm Dần (1242), đời vua Trần Thái Tông, nước ta được chia làm 12 lộ. Lộ Bắc Giang thời Trần địa giới vẫn cơ bản như thời nhà Lý.

Năm Mậu Dần (1518) cuộc khởi nghĩa Trần Cảo - Trần Cung ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Trần Cảo đem toàn bộ lực lượng tiến thẳng về Bồ Đề, giao chiến dữ dội với Trần Châu rồi trở lại Chu Nguyên. Kể từ đây Trần Cảo kiểm soát toàn bộ khu vực Bắc sông Cầu gồm Bắc Giang, Hải Dương, Lạng Sơn…

Năm Bính Dần (1866) cuộc khởi nghĩa Quận Tường. Quận Tường tên thật là Nguyễn Văn Tường, quê ở làng Châu, xã Ngô Xá, tổng Yên Lễ, huyện Yên Thế (nay thuộc xã Cao Xá-Tân Yên), sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khổ.

Năm Canh Dần (1890), nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy đã bắt sống hai anh em Rốccơ. Đầu tháng năm 1890, Lưu Kỳ chỉ huy nghĩa quân tấn công vào thị trấn Lục Nam, đánh vào toà Công sứ, trận đánh đội quân của Đuyphơi. Giặc Pháp phải lập hàng loạt đồn ở Lục Nam, Biển Động…, huy động 6 pháo thuyền ngày đêm tuần tra trên sông Lục Nam để cắt đường tiếp tế của nghĩa quân. Lưu Kỳ chuyển địa bàn hoạt động sang Đông Triều.

Ngày 25/3/1890, Đề Thám đã tập trung một lực lượng hơn 500 nghĩa quân về Luộc Hạ phô trương thanh thế, cuốn hút đạo quân thường trực của Pháp do đại uý Đétpalăngcơ chỉ huy đang đóng ở đồn binh Bố Hạ về phía mình, để cầm chân chúng cho Cai Điều-Đề Hoàn thoát khỏi thế bị bao vây. Sau một trận giao chiến ác liệt và bị thiệt hại nặng, quân Pháp lại vội quay về Bố Hạ. Nghĩa quân ở Bảo Lộc do di chuyển chậm nên bỏ lỡ thời cơ.

Cuối tháng 4 năm 1890, trên 300 lính khố xanh đã tập hợp ở các đồn binh Bỉ Nội, Hà Châu, Ngòi Vo, La Sơn thượng, Đức Thắng, Bắc Ninh cùng với lính cơ ở Đào Quán để tấn công đồn Cao Thượng. Một trận đụng độ đẫm máu diễn ra. Đội quân khố xanh này đã phải tan rã vì bị thua một trận quan trọng trước làng Cao Thượng.

Tháng 5 năm 1890, ngoài việc tấn công Sen Hồ (Việt Yên), Thống Thiện (Quế Võ), nghĩa quân lại tổ chức tấn công đồn binh Bố Hạ, Đồng Tiến, mãi đến tháng 6 năm 1890, Cai Điều mới đưa được lực lượng tới làng Phan (Lạng Giang) sau một trận kịch chiến, đêm mùng 5 tháng 6 nghĩa quân đã tràn sang Yên Thế.

Tháng 10 năm 1890, thiếu tướng Gôđanh đã tập hợp các đạo quân của thiếu tá Đờbâyliê (220 người), thiếu tá Tan (416 người, 4 đại bác) và đại uý Têta (152 người, 6 đại bác), đem theo 2 tàu chiến Muloăng, Giấccanh, một bệnh viện giã chiến, một đoàn vận tải lương thực, võ khí để đánh Cao Thượng-Luộc Hạ.

Ngày mùng 6 tháng 11 năm 1890, Đờbâyliê và Tan đem toàn bộ lực lượng của mình tấn công vào Cao Thượng. Nghĩa quân với một lực lượng nhỏ bé đã bẻ gãy tất cả các đợt tấn công của địch và chịu đựng sức công phá của 200 quả đạn pháo suốt trong một ngày, một đêm. Trong khi ấy, một lực lượng đông đảo gồm 450 nghĩa quân, đã truy kích đạo quân của Têta suốt 7 giờ đồng hồ rồi bao vây chúng tại trên 3 mỏm đồi ở phía tây Luộc Hạ.

Ngày mùng 9 tháng 12 năm 1890, Pờletxiê dẫn 145 lính và sỹ quan, 1 đại bác kéo vào khu rừng Hữu Thượng. Chúng đã áp tới được pháo đài Nam và đồn chính thì bị nghĩa quân đánh bật ra. Đến ngày 11 tháng 12, Tan đem 291 lính và sỹ quan, 1 đại bác tấn công Hố Chuối lần thứ hai. Chúng cũng chỉ chịu đựng được đến 12 giờ 40 phút phải bỏ chạy, để lại ở đây nhiều xác chết.

Ngày 22 tháng 12 năm 1890, trung tá Vanhken Mayê tấn công ồ ạt vào Hố Chuối, vãi hàng vạn viên đạn súng trường, hàng trăm quả đạn đại bác, nhưng đều bị nghĩa quân đánh bại. Nhiều trận ác chiến đã xảy ra tại suối Gồ, pháo đài Nam, pháo đài Bắc. Thấy rằng không thể đương đầu với một lực lượng trên 1000 nghĩa quân được huấn luyện chu đáo và chỉ huy tốt, được trang bị các loại súng Uynsesttơ, Rơmintông, Gra. Trung tá Vanhken Mayê ra lệnh rút quân vào lúc 4 giờ, sau khi bị tiêu diệt 33 lính.

Năm Mậu Dần (1938), chi bộ phủ Lạng Thương được thành lập. Chi bộ lúc đầu gồm có các đồng chí Vương Văn Trà, Mai Ngọc Thuyết (Mai Thị Vũ Trang), Nguyễn Văn Giản, Nguyễn Văn Lung, Ngô Tuấn Tùng… đồng chí Vương Văn Trà được cử làm Bí thư chi bộ. Lúc này tỉnh Bắc Giang chưa có ban lãnh đạo, chi bộ phủ Lạng Thương với 12 đồng chí đảng viên đã lãnh đạo phong trào cách mạng của cả tỉnh trong những năm 1938-1939.

Năm Canh Dần (1950), địch tăng cường bố phòng, xây hầm ngầm, lập thêm đồn bốt ở địa bàn Lục Ngạn, tăng thêm lực lượng chiếm đóng, nối liền các vị trí từ phủ Lạng Thương đi Đồi Ngô, sử dụng canô vận chuyển vũ khí cho các vị trí từ Phả Lại đến phố Lục Nam. Tháng 1 năm 1950, hơn 5000 binh lính và dân binh của Tưởng Giới Thạch di chuyển từ mặt trận Đông Bắc về Lục Ngạn, quân Pháp đã sử dụng bọn này tiến hành các cuộc càn quét ở các xã xung quanh khu vực chúng kiểm soát.

Hưởng ứng đợt tổng phá tề, huyện Lục Ngạn đã thành lập Ban lãnh đạo phá tề. Trước khi vào chiến dịch, ngày 25 tháng 1 năm 1950, đơn vị địa phương quân của huyện phối hợp với công an xung phong trừng trị, cảnh cáo bọn tay sai địch ở Đồi Ngô. Đầu tháng 2 năm 1950, tất cả các xã trong vùng tạm chiếm như: Yên Sơn, Bắc Lũng, Bảo Đài, Bảo Sơn, Phương Sơn, Tam Dị, Tiên Hưng, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội đều nhất loạt phá tề, giải tán hoàn toàn các ban tề ở xã.

Trong chiến dịch phá tề, Yên Dũng hoạt động khá sôi nổi. Ngày 2 tháng 2 năm 1950, du kích Tân Dân (nay là Quỳnh Sơn, Tân An, Xuân Phú) chống càn quét, tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên địch, giải thoát nhiều đồng bào. Ngày 10 tháng 2 năm 1950 du kích Đức Giang tiêu diệt một số phản động và bảo an.

Ở Phủ Lạng Thương, sau khi xây dựng xong Phân khu, tháng 3 năm 1950, địch bố phòng tại vị trí Ông Trạng, tăng cường phòng thủ Thái Đào và Mỹ Độ, củng cố các làng tề xung quanh thị xã, khẩn trương sửa chữa quốc lộ 1A từ Đạo Ngạn lên Mỹ Độ và từ Phủ Lạng Thương lên Thái Đào. Sân bay Hà Vị cũng được sửa chữa gấp, tổ chức bố trí canh phòng rất cẩn mật. Vị trí Quảng Phúc cũng được xây dựng trong thời gian này.

Trước những hoạt động quân sự ngày càng tăng của địch ở các vùng giáp khu vực tự do của ta, Tỉnh uỷ Bắc Giang nhận định rằng, địch đã chú trọng nhiều đến Yên Thế. Đúng như nhận địch của Tỉnh uỷ, trong hai ngày 16 và 18 năm 1950 quân Pháp từ Mỏ Thổ kéo lên càn quét vùng Lăng Cao, Ngô Xá nhưng bị du kích và bộ đội địa phương đẩy lùi, diệt 10 lính Pháp và 50 tề phản động.

Từ đầu tháng 3 năm 1950, địch luôn mở những trận càn quét vào các làng xung quanh đồn bốt để đánh phá và ngăn cản những đợt vận chuyển thóc gạo, quân lương từ Liên khu III lên Chiến khu Việt Bắc qua các chặng Cầu Lồ, Đại Giáp, Sàn, Dốc Cọc, Ri. Tại Lục Ngạn, ngày 10 tháng 3 năm 1950 địch cho 3 tiểu đoàn từ Đồi Ngô, Chũ và Đông Triều càn vào xã Trường Sơn. Trung đội du kích xã đã chia 3 tiểu đội nghi binh, phục kích trong rừng rậm bắn chết và làm bị thương nhiều sỹ quan và binh lính Pháp, buộc chúng phải lùi quân. Ngoài ra, trong tháng 4 năm 1950, du kích Nghĩa Phương còn phối hợp với một bộ phận của Tiểu đoàn 23 đánh vào đồn Quỷnh, thu nhiều vũ khí và buộc địch phải chạy sang đóng ở Rong Khế, Tai Voi.

Đầu tháng 5 năm 1950, nữ điệp viên Cao Kỳ Vân (Nguyễn Thị Được) quê ở làng Giã-Cao Thượng đã dũng cảm, mưu trí đột nhập vào vị trí Mỏ Thổ, dùng lựu đạn ném vào nơi ở của địch, gây cho chúng nhiều thương vong.

Từ tháng 6 năm 1950, trong Phân khu Phủ Lạng Thương, thực dân Pháp tăng cường hoạt động ở dọc đường giao thông quan trọng, càn quét hai bên đường với khoảng cách từ 7-10km, xây nhiều tháp canh, sửa chữa cầu đường, mở rộng phạm vi kiểm soát. Trên địa bàn Lạng Giang, Lục Ngạn địch tăng cường hoạt động trên đường 13 từ Phủ Lạng Thương đi Đồi Ngô, Chũ, An Châu gây cản trở cho việc vận chuyển của ta.

Tháng 6 năm 1950 Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch quyết định mở Chiến dịch biên giới. Để chuẩn bị cho Chiến dịch, Lục Ngạn chịu trách nhiệm bố trí một số đơn vị du kích lưu động, làm nhiệm vụ bảo vệ để dân công vận chuyển vũ khí đạn dược phục vụ Chiến dịch được an toàn.

Bị thất bại nặng nề trong Chiến dịch biên giới, ngày 28 tháng 9 năm 1950 địch huy động hàng ngàn quân từ các vị trí Con Voi, Mỏ Thổ, Đạo Ngạn (Việt Yên), Đáp Cầu (Bắc Ninh) mở trận càn quét mang tên Phốc (Phoque) vào Hiệp Hòa, Phú Bình và thị xã Thái Nguyên nhằm đánh phá vùng tự do, huỷ hoại mùa màng, lấy lại tinh thần cho binh lính.

Ngày 6 tháng 12, quân địch càn quét tràn sang Yên Dũng đốt phá hàng ngàn ngôi nhà, hàng ngàn thúng thóc của nhân dân.

Tại Yên Thế, trong tháng 12 năm 1950, địch cho máy bay bắn phá vào Cao Thượng, Đầu Cầu, làng Hạ, làng Giã, Nhã Nam, làng Am, Yên Lễ làm chết và bị thương 80 người, thiêu huỷ 715 ngôi nhà cùng hàng chục tấn lương thực của nhân dân.

Năm Nhâm Dần (ngày 27 tháng 10 năm 1962), Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định sát nhập hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh lỵ đóng ở thị xã Bắc Giang.

Năm Giáp Dần (1974), tỉnh ta được Chính phủ tặng bằng khen về công tác tuyển quân, lực lượng vũ trang của tỉnh được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng lẵng hoa.

Năm Bính Dần (1986), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Tháng 12 năm 1986, Đảng ta đã tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.

Năm Mậu Dần (tháng 10 năm 1998), đồng chí Đỗ Bình Dương thôi làm Bí thư Tỉnh uỷ, đi nhận nhiệm vụ mới. Ngày 21 tháng 12 năm 1998, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã bầu đồng chí Nguyễn Quốc Cường làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Năm Canh Dần (2010), Đảng bộ tỉnh Bắc Giang tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XVII.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Niên biểu Việt Nam -  Vụ Bảo tồn bảo tàng - NXB KHXH, Hà Nội 1970.

- Địa chí Hà Bắc - Ty Văn hóa và Thông tin - Thư viện tỉnh, xuất bản 1982.

- Lịch sử Hà Bắc tập I - Hội đồng lịch sử tỉnh Hà Bắc, xuất bản 1986.

- Lịch sử Quân sự Hà Bắc (1945-1954) tập I, Bộ chỉ huy Quân sự Hà Bắc, xuất bản 1990.

- Bắc Giang những chặng đường lịch sử - Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1999.

- Địa chí Bắc Giang, tập II - Lịch sử Văn hoá, UBND tỉnh Bắc Giang, xuất bản 2006.

Nguyễn Hữu Tự

 

;?>