• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4531617
  • Số người đang xem: 56
  • Trong ngày: 1482
  • Trong tuần: 17814
  • Trong tháng: 699374
  • Trong năm: 4179394
Trang chủ

Một vài suy nghĩ về phát huy giá trị di sản văn hóa khu thắng cảnh Suối Mỡ

( 00:59 | 31/05/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

I. TIỀM NĂNG KHU DU LỊCH THẮNG CẢNH SUỐI MỠ.

Suối Mỡ là khu di tích lịch sử và danh thắng thuộc xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Suối Mỡ cách thành phố Bắc Giang 30km về phía Đông, cách Thủ đô Hà Nội 75km về phía Đông Bắc. Với điều kiện giao thông thuận lợi cả đường bộ và đường sông, thắng cảnh Suối Mỡ sẽ là điểm đến của du khách thập phương. Đến đây vừa được ngắm cảnh, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên ban tặng; vừa là nơi du lịch văn hóa truyền thống, lịch sử; vừa là nơi tín ngưỡng tâm linh với hệ thống đền trên vực Mỡ. Từ đền Hạ lên tới đỉnh núi chùa Hồ Bắc với độ cao 700m so với mặt biển, là cả hệ thống di tích gần đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lên nữa là bãi Quần Ngựa, đền Trần, khu Ba Dinh Bảy mẫu, chùa Hòn Trứng, đình Xoan và chùa Hồ Bắc.

Từ chùa Hồ Bắc nước từ các khe suối róc rách tạo ra nguồn nước đổ về Suối Mỡ. Trong các suối nhỏ đổ về thác chính, ngày đêm nước dội bọt trắng xóa, tạo nên âm thanh, róc rách, trầm bổng giữa thiên nhiên núi rừng hùng vĩ, đó là thác Thùng Thình, dưới thác là ngôi đình cổ "Đình Xoan" nơi thờ thần núi. Xuôi xuống là khu chùa Hòn Trứng (nay là Phế Tích). Khu Ba Dinh Bảy mẫu là điểm trung tâm giữa đền Hạ và chùa Hồ Bắc. Ở đây đẹp và rộng Suối Mỡ to dần, nguồn nước lớn hơn tạo vẻ đẹp giữa suối và không gian rừng núi đồi, đá vách, dựng tạo thành vách đứng mà trong sử sách, dân gian gọi là khu đá vách. Từ đá vách xuôi xuống đền Trần, nơi đây là nơi đóng quân của thời Trần thế kỷ XIII chống giặc Nguyên Mông. Nhân dân lập đền thờ đức Thánh Trần. Dưới đền Trần là khu Quần Ngựa, người dân thường gọi là bãi Quần Ngựa. Đây là nơi tập ngựa của nghĩa sĩ các thời chống giặc. Bãi Quần Ngựa là một thung lũng, bốn bề là rừng núi, nó tựa như một lòng chảo ở lưng chừng núi. Xuôi xuống là đền Thượng, đền Trung và đền Hạ. Đây là khu thắng tích đẹp gắn với tâm linh đã được khai thác từ lâu.

Đền Thượng nằm ở giữa vực Mỡ. Đền được tạo dựng bởi mái đá của sườn núi. Cửa đền là ngọn thác đẹp nước chảy từ thác Thùng Thình đổ về đây. Đối diện với đền là núi Hang cao lừng lững, rừng tự nhiên um tùm cây cối, tạo không khí mát lành. Từ thác vực Mỡ xuống, dòng nước to hơn, lòng suối rộng, có rất nhiều thác nhỏ, nguồn suối chảy bên sườn núi Hang, lòng suối có đá to, đá nhỏ, có thác, vực tạo nên bồn tắm mát nước trong lành. Đền Trong nằm giữa không gian đền Hạ và đền Thượng, nơi đây rộng và thoáng hơn đền Thượng. Bắt đầu từ đây, sau khi thắp hương thờ thánh, có thể du ngoạn theo dòng suối tới thác Thùng Thình. Đền Hạ với quy mô lớn hơn, nằm giữa thung lũng rộng lớn gồm toàn Tiền đường, Trong đường và Thánh cung. Ngày hội đền, khách tập trung ở đền Hạ sau đó mới lên lễ ở đền Trung và đền Thượng. Hội đền Suối Mỡ được mở vào ngày 30 tháng 3 và mồng 1 tháng tư âm lịch hàng năm.

Đền Suối Mỡ là nơi tôn thờ công chúa thời Hùng Vương, người đã có công dạy dân làm ruộng, làm nương, đắp đập, đưa nguồn nước về cho dân làm ruộng. Tương truyền: Đời Hùng Định Vương, đệ tam cung là An Nương có thai đến ngày 11 tháng 3 sinh ra nàng Công chúa xinh đẹp đặt tên là Quế Mị Nương. Lớn lên nàng hết lòng hiếu thảo phụng thờ cha mẹ. Khi mẹ qua đời, Công chúa để tang mẹ đúng 3 năm, rồi xin với vua cha cho đi chu du thiên hạ. Đến đâu, Công chúa cũng ra ân đức cứu giúp dân lành, nơi nào có cảnh đẹp, đất thiêng thì cho dựng miếu thờ thần. Khi đến xã Nghĩa Phương công chúa thấy nơi đây hùng vĩ, suối nguồn róc rách chảy quanh năm, bèn cho lập một ngôi đền để thờ thần Núi và khuyên dân đắp đập giữ nước, đưa dòng nước mát về làm ruộng, cầy cấy. Từ đấy, để tỏ lòng biết ơn công chúa, sau khi về  trời (hóa ngày 25 tháng 3) dân tu tạo đền thờ và tôn bà là Thượng Ngàn Thánh Mẫu. Để tưởng nhớ bà, người dân mở hội từ ngày 30/3 đến 1/4 âm lịch và ngày 1/4 âm lịch hàng năm là chính hội.

Ngày hội dân làng Dùm, lành Quỷnh rước thánh và tế lễ tại đền. Lễ thờ gồm bò, lợn, trâu cùng bánh dày cặp đôi (từ đó ở đây có tục giã bánh dày thờ). Ở đây còn có loại rượu ngon nổi tiếng, gạo nếp nấu bằng nước suối, mua lá nấu theo kiểu cổ truyền "ba ba, ống thắm". Ẩm thực còn có bê thui, lợn quay, lợn ông voi, xôi vò, chè đường… Trong ngày hội còn có hát văn, hát soong hao, then…

Ca ngợi cảnh đẹp, linh thiêng của Suối Mỡ người xưa truyền lại thơ rằng: "Việc cũ đời Hùng hoặc có ngoa; Lạ thay, suối đá nảy chồi hoa; Kiếp xưa công chúa nhường mây khói; Trên đỉnh Huyền Đinh tỏa khói ra; Pháp nhiệm thần tiên còn bí ẩn; Dấu thiêng non nước chửa tiêu ma; Treo leo ngắm nghía đà không chán; Thác nước tuôn reo, bạc trắng ngà".

Đã từ lâu Suối Mỡ được khách thập phương quan tâm đến chiêm ngưỡng cảnh đẹp về du lịch tâm linh. ngày một đông hơn. Nhất là người dân trong tỉnh và du khách từ Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh… vào các dịp đầu xuân, mùa hè, và ngày lễ hội. Song việc đầu tư, tu tạo, khai tác còn hạn chế. Chủ yếu vẫn là yếu tố tự nhiên mà chưa có quy hoạch tạo nơi đây thành khu du lịch với đầy đủ các yếu tố để thu hút khách.

II. VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ, QUY HOẠCH KHU SUỐI MỠ.

1) Đầu tư, quy hoạch.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lục Nam lần thứ XVIII đề ra việc thúc đẩy ngành kinh tế du lịch phát triển. Vì vậy huyện Lục Nam đã xây dựng dự án quy hoạch tổng thể khu du lịch Suối Mỡ thành khu du lịch sinh thái. Mở đầu của dự án là đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng mức đầu tư gần 10 tỷ, được khởi công từ cuối năm 2002 gồm 13 hạng mục, giải phóng 1,5 ha mặt bằng để thi công kê lát 550m hai bên bờ suối từ đền Hạ đến đền Trung; Trồng cây xanh hai bên đường tỉnh lộ 293. Đến năm 2007 mới xây dựng được 4 hạng mục gồm bếp, nhà ăn, nhà vệ sinh, san lấp mặt bằng, đổ bê tông nhà hội thảo và đón tiếp khách, kê lát hai bên bờ nước, 2 nhánh bo núi, nhà sàn đền Trung…

Năm 2008, tiếp tục các công trình dự án quy hoạch, năm 2009 công trình được triển khai làm nhà vệ sinh, bồn hoa và cột mốc đường băng cản lửa dài 12km tạo ranh giới giữa khu rừng đặc dụng bảo vệ cảnh quan môi trường; công trình xử lý chất thải…

Cũng trong năm 2007, dự án xây dựng hồ Suối Mỡ được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt, gồm các nhiệm vụ: cấp nước tưới chủ động cho 400 ha lúa 2 vụ và 120 ha màu; duy trì tạo dòng chảy cơ bản ở hạ lưu với lưu lượng 0,029m2/s; tạo hạ tầng cơ sở để nuôi trồng thủy sản phục vụ khách du lịch; cải thiện môi trường sinh thái. Tổng mức đầu tư 110.725.317.000đ.

Lễ hội năm 209 tại Suối Mỡ đã đón 60.000 lượt khách du lịch trong đó có 70 đoàn khách trong và ngoài tỉnh. Tại khu du lịch đã tổ chức các hoạt động vui chơi, các món ăn ẩm thực… Các sản phẩm du lịch đã được địa phương quan tâm như: khôi phục nghề dệt thổ cẩm của người Cao Lan, nghề mây tre đan, phát triển chăn nuôi cây con truyền thống ở Nghĩa Phương như: Tắc Kè, Ba Kích, Trám đen, mật ong… các di tích lịch sử văn hóa trong khu vực được đầu tư tu bổ để du khách đến Suối Mỡ có thể đi vãn cảnh như đình chùa Đọ, đình Gàng, đình Ruôm, đình Quỷnh…

2) Những hạn chế.

Qua thực tiễn đầu tư quy hoạch và phục vụ du lịch những năm qua còn bộc lộ những mặt hạn chế:

- Công tác quản lý nhà nước về du lịch chưa thống nhất, sự phối hợp quản lý đầu tư phát triển giữa các ngành liên quan chưa chặt chẽ.

- Công tác thu hút đầu tư còn hạn chế, đầu tư chưa được tính toán chu đáo nên đã phá vỡ cảnh quan môi trường sinh thái; việc mở rộng khu du lịch trên tuyến từ đền Thượng lên chùa Hồ Bắc chậm, các di tích trên đó chưa được đầu tư tu bổ, chưa tạo được cảnh quan và nơi vui chơi giải trí. Nhất là khu vực đền Trần, bãi Quần Ngựa, khu Ba Dinh bảy mẫu, thác Thùng Thình…

- Chưa tạo được khu dịch vụ phục vụ du lịch, sản phẩm du lịch là quá ít ỏi, chưa thu hút vì đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, chưa khai thác được văn hóa du lịch truyền nhất là văn hóa các dân tộc: Kinh, Sán Chí, Nùng, Tày, Hoa, Dao về các mặt: sản phẩm nghề thủy nông, ẩm thực, trang phục, dân ca, trò chơi dân gian…

- Hệ thống đường giao thông từ Hà Nội, Bắc Giang theo đường 31 và đường tỉnh lộ 293 là tuyến đường còn rất hẹp, mặt đường gập gồ, khó đi; tuyến đường sông từ Bắc Giang lên bến phà Lục Nam cũ (trên Sông Thương) chưa được khai thác để du khách có thể thăm quan các di tích lịch sử văn hóa trên hai bờ sông Lục.

- Chưa tạo được các điểm chơi, khách sạn, khu nghỉ dưỡng cuối tuần hoặc lưu giữ khách ở lại; tuy nhiên đầu tư xây dựng vẫn phải giữ được tính nguyên sơ  tự nhiên của khu sinh thái.

- Điều quan trọng là công tác quảng bá du lịch còn quá yếu kém, tại đường 1A mới và đường 31 chưa có biển quảng cáo lớn, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng còn hạn chế, nhỏ lẻ. Chưa có ấn phẩm sách, tranh ảnh, băng đĩa… giới thiệu và khu du lịch… vì thế khách du lịch đến với Suối Mỡ chưa nhiều, doanh thu còn hạn chế.

 

III. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM ĐỂ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH.

1- Dự án quy hoạch phát triển khu du lịch sinh thái cần được quan tâm trên nhiều lĩnh vực. và cần nhanh chóng khắc phục những hạn chế thiết sót trong quá trình thực hiện Quy hoạch, dự án các hạng mục công trình… Sự tác động của con người vào môi trường sinh thái cần được tính toán kỹ để bảo đảm tính nguyên sơ của di tích.

2. Cùng với dự án khu Suối Mỡ, cần mở rộng các điểm di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Lục Nam. Đầu tư, nâng cấp các di tích bảo tồn và phát huy môi trường sinh thái, danh lam, thắng cảnh… để thu hút khách và lưu giữ khách như: điểm du lịch trên núi Huyền Đinh (còn gọi là Ngôn Treo Đanh) sách Lục Nam địa chí đã ghi "Núi Huyền Đinh mộng danh là núi Ngàn Ngọn vạn đỉnh (Thiền Phong vạn lĩnh) nhấp nhô muôn trùng, ở đó có thể khai thác các điểm du lịch hấp dẫn như Bạch Thạch (đá trắng), đế nữ (núi vua bà), Tiên phát (núi tóc tiên) hang non, núi Khám Lạng có chùa Cao, chùa Khám, 2 ngôi chùa có từ thời Lý Trần, khu thắng tích chùa Hòn Tháo và Yên Mã trong địa phận núi Tượng Sơn. Nhất thống chí đã ghi: "Núi Tượng Sơn ở xã Cẩm Lý, phía Tây huyện Lục Ngạn, mạch từ Huyền Đinh đang kéo đến, các núi liên tiếp nhau trông như bầy voi phục, giữa núi có chỗ lõm vào là đường đi, cửa đường hiểm hẹp có hình thế một người địch trăm người". Hai chùa nằm trong khu vực suối nước vực rêu, thác nước lớn và đẹp, tiếp đến là núi Phật Sơn, núi Chung Sơn, Hang Giá…

3. Cùng với thắng cảnh, núi sông, Lục Nam có thể khai thác 31 di tích lịch sử văn hóa đã được nhà nước xếp hạng, phục vụ khách du lịch.

4. Mở tuyến thắng cảnh Vực Rêu, suối nước vàng… và có thể mở tuyến du lịch: Bắc Giang – Suối Mỡ - Suối nước vàng; Bắc Giang – Suối Mỡ - Suối Nứa; Bắc Giang – Vĩnh Nghiêm – Suối Mỡ - Đình chùa Thượng Lâm…

5. Cần có kế hoạch bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số: Phong tục tập quán, trang phục, dân ca dân vũ, lễ hội, ẩm thực, mỹ thuật, nghề thủ công… tạo thành sản phẩm hàng hóa phục vụ và đáp ứng nhu cầu của du khách.

6. Cùng với việc lập quy hoạch, xây dựng tu bổ từng bước các điểm phát triển du lịch trên, cần có chiến lược quảng bá rộng rãi để du khách trong nước và quốc tế biết được về Suối Mỡ và các điểm du lịch sinh thái, tâm linh của Lục Nam.

7. Tăng cường quản lý nhà nước, củng cố Ban quản lý khu di tích đủ tầm, đủ năng lực về mọi mặt để quản lý đầu tư và khai thác du lịch.

8. Có chính sách kêu gọi đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư xây dựng không chỉ khu Suối Mỡ các điểm thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Lục Nam.

Ngô Văn Trụ

;?>