• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5059235
  • Số người đang xem: 17
  • Trong ngày: 162
  • Trong tuần: 13741
  • Trong tháng: 1226992
  • Trong năm: 4707012
Trang chủ

Mối quan hệ giữa nhà Lý với các Châu mục Lạng Châu qua di tích lịch sử Đền Hả và Di chỉ khảo cổ đền Cầu Từ

( 00:27 | 30/06/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Bắc Giang được coi là “phên dậu” phía bắc của kinh đô Thăng Long và cũng là phên dậu của Nhà nước Đại Việt. Con sông Cầu đường danh giới phía nam của tỉnh là phòng tuyến phía bắc, nơi nhà Lý chốt chặn đánh tan 10 vạn quân xâm lược Tống năm 1077. Kép - Giáp Khẩu (thuộc Động Giáp có dòng họ Thân, 3 đời làm Phò mã, là tai mắt, là đội quân bản bộ tinh nhuệ của nhà Lý trong việc phòng thủ đất nước.

Tại di tích đền Hả, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, có ngôi đền thờ những người có công với nhà Lý trong công cuộc chống giặc bảo vệ đất nước, đó chính là các tù trưởng họ Thân và các công chúa nhà Lý.

Theo Việt Sử lược: “Năm 1029 Châu mục Lạng Châu Thân Thiệu Thái, lấy công chúa Bình Dương” (Châu mục Lạng Châu nay thuộc Bắc Giang và nam Lạng Sơn – Lạng Châu có Động Giáp ở phía nam ải Chi Lăng, chủ Động Giáp sau đổi sang họ Thân, 3 đời làm Phò mã. Thân Thiệu Thái là con Thân Thừa Quý). Thừa Quý nguyên là họ Giáp làm tù trưởng Động Giáp. Cũng theo Việt Sử lược: “Năm 1066 con trai công chúa Bình Dương là Thân Đạo Nguyên lấy công chúa Thiên Thành (Thân Đạo Nguyên còn có tên là Cảnh Nguyên, Cảnh Lạng hay Thân Cảnh Phúc). Như vậy, vào thời nhà Lý, Giáp Thừa Quý làm chủ Động Giáp, Phò mã đầu tiên của nhà Lý, Giáp Thừa Quý sinh ra Thân Thừa Thái. Thân Thừa Thái tức Vũ Tỉnh, bố đẻ của Vũ Thành. Vũ Thành làm phò mã nhà Lý, lấy công chúa Bình Dương (1029) - mãi tới năm 1066 Vũ Thành mới sinh  con trai là Thân Cảnh Phúc. Thân Cảnh Phúc lại được nhà Lý gả công chúa Lý Thiên Thành và ông là Phò mã nhà Lý đời thứ 3 ở Động Giáp.”

Theo thần tích và sắc phong còn lại ở đền Hả có bài văn cúng Thần cho thấy 7 danh nhân được thờ tại đền là:

Thánh Phụ Thân Thân tướng quốc vương Thái truyền Tả bộc xạ Vũ Tỉnh.

Thánh Mẫu Quốc mẫu Thiên Thành, Thái Đường, Thái trưởng, Lý Cảnh công chúa.

- Thánh di Thụy Thiên công chúa Lý Thị Dược, hiệu diệu Vân.

- Thánh di Bình Dương công chúa Lý Thị Giám, hiệu diệu Minh.

- Thánh di Yên Hoa công chúa Lý Thị Kiên, hiệu diệu Linh.

- Thánh phi Trung minh trinh tĩnh Giáp Thị Tuấn

-  Đương cảnh Thành hoàng: Tri biên đầu thượng tướng quân Vũ Thành tôn thần.

Như vậy, đến Vũ Thành (tức Thân Cảnh Phúc) họ Thân ở Động Giáp đã là 3 đời làm Phò mã nhà Lý và làm Châu mục Lạng Châu. Thân Cảnh Phúc đã cùng quân dân nhà Lý đánh tan giặc Tống, sử sách còn truyền lại muôn đời. Nhớ công ơn họ, các đời đã lập đền thờ suốt dọc đôi bờ sông Lục.

Tương truyền: “Đời vua thứ 8 nhà Lý, sinh được 5 người con gái. Người con cả là Chiêu Hoàng, thứ hai là Thái Đường công chúa Lý Thị Cảnh, thứ ba là Thụy Thiên, thứ tư là công chúa Bình Dương, thứ năm là công chúa An Hoa. Thái đường công chúa Lý Thị Cảnh lấy chồng về huyện Na Ngạn. Chồng là quan Tả bộc xạ quan sát mật lệnh công, ông bà sinh được con trai đặt tên là Thân Vũ Thành”.

Khi giặc phương Bắc xâm lược nước ta, quân ta đánh nhau trăm trận tại cửa ải. Thấy Vũ Thành có thần kiếm các trung thần nghĩa sỹ trong vùng quy tụ về, hợp cùng nghĩa quân của ông. Tất cả đều vâng lệnh hiệp lực đánh giặc. Vũ Thành ngày thường đem quân đánh giặc, đêm đêm về thăm vợ mà mẫu thân không biết. Khi ấy mẫu thân đã trở về trông nom nhà cửa tại thôn An Khánh, còn vợ Vũ Thành ở lại Bồng Lai. Một hôm con dâu đến chơi, thấy con dâu có thai, thánh mẫu mắng rằng: Chồng con trận mạc, chưa từng được ghé thăm nhà, cớ sao con lại mang thai? Con dâu thưa rằng: “Xin mẹ yên tâm, con chân tình, không làm trái đạo người vợ, đợi đêm chồng con về nhà con giữ thần kiếm ở lại sẽ chứng minh sự thật”. Nàng bèn sai thợ rèn đánh một thanh kiếm khác giống hệt kiếm thần, chờ chồng về đổi để thanh minh với thánh mẫu.

Đêm ấy, Vũ Thành về thăm vợ, kiếm thần được để bên giường. Chờ cho chồng ngủ say bà lấy kiếm sắt thay vào. Mờ sáng hôm sau, Vũ Thành lên ngựa như thường ngày, trở lại trại đốc quân xông ra trận tiền. Trận này thế giặc bỗng cường hẳn lên, quân ta tiến lên không được lanh lợi, con ngựa trắng cũng không hăng hái xông pha như các trận đánh trước. Kiếm thần chỉ vào hàng ngũ quân giặc, lẽ ra chúng phải tan, nhưng lần này, chúng không lùi mà tiến lên. Vũ Thành phải cho quân rút chạy. Ông bị tướng giặc chém một nhát vào cổ, Vũ Thành ôm đầu rạp mình trên lưng ngựa. Ngựa trắng mang chủ tướng thoát khỏi vòng vây. Trên đường gặp một bà lão hỏi: “Người bị chém đứt đầu thì sống chết ra sao. Bà lão trả lời: “tất chết”. Đến xã Hả Hộ thực là nơi đất thiêng ông lìa đầu ở đó. Tại đây dân đã lập đền thờ (Đền Hả), sau được phong làm Thượng đẳng thần. Còn thân thể ông cùng cưỡi ngựa bay đi, qua nơi nào, nơi đó lập đền, miếu thờ phụng ông.

Đền Cầu Từ ở thông Cầu Từ, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn là nơi thờ bà Lý Thị Cảnh (mẹ Vũ Thành) và thờ cả Vũ Thành. Ngoài đền Hả và đền Cầu Từ còn các nơi khác thờ bà và Vũ Thành như: Bồng Lai, cụm di tích xã Lão Hương, xã Từ Xuyên (nay thuộc xã Phượng Sơn)…. Theo các cụ ở Cầu Từ cho biết, trước kia ở Lão Hương và Từ Xuyên thờ Vũ Thành, khi ở đó tổ chức hội đều phải nghênh rước kiệu lên đền Cầu Từ tế lễ, xin phép rồi mới được tổ chức hội.

Để tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Viện Khảo cổ, đề nghị Bộ Văn hoá- Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch), cho phép khai quật khu di tích Cầu Từ, nhằm xác định minh chứng mối quan hệ giữa triều đại nhà Lý với vùng biên viễn, phía bắc tổ quốc, phên dậu chống quân xâm lược lúc bấy giờ. Kết quả khai quật đền Cầu Từ lần thứ 2 – 2009, làm rõ hơn không gian kiến trúc ở khu vực Cầu Từ, hệ thống móng trụ, vật liệu, con đường lát hoa chanh là sự nối tiếp với khu vực khai quật lần thứ nhất.

Trong số những hiện vật khảo cổ đã phát hiện trong vùng, có một viên gạch mang dòng chữ: “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (chế tạo năm Long Thụy Thái Bình 4 - 1057 thời vua Lý Thánh Tông). Di chỉ ở Cầu Từ trong hố khai quật lần 1 và lần 2 cho thấy hệ thống trục móng sỏi, đá kè… đều có niên đại thuộc thời nhà Lý thế kỷ XII và theo tư liệu khảo cổ ở đền Cầu Từ lần 2 có quy mô kiến trúc hoành tráng và có niên đại thuộc thời Trần thế kỷ XIII. Tất cả vật liệu (gạch Lý gia, đầu ngói ống, con đường lát gạch vỉa hoa chanh, hệ thống trụ, móng sỏi…) góp phần khẳng định nơi đây là trụ sở, hoặc dinh thự của các quan lại cao cấp trong hoàng tộc nhà Lý và nhà Trần (những kiến trúc ấy giống như kiến trúc ở Hoàng thành Thăng Long).

Qua hai đợt đào khảo cổ ở Cầu Từ, với những kết quả trên có thể đi đến nhận định ban đầu: Hệ thống móng, cột trụ, dấu vết kiến trúc cho chúng ta thấy đây là loại hình kiến trúc dinh thự quý hiếm thời Lý – Trần (nhất là thời Lý) trên đất Cầu Từ. Mô hình kiến trúc là kiểu dinh thự của giới quý tộc, khác với các kiến trúc đình, chùa thời Lý - đây là kiến trúc Phủ đệ thời Lý ở ngoại thành Thăng Long (kiến trúc duy nhất còn lại đến thời điểm hiện nay). Mặt khác qua di chỉ kiến trúc còn cho thấy dấu ấn thời Trần rất quý hiếm. Nó có thể cung cấp cho chúng ta những tư liệu và cơ sở để nghiêm cứu kiến trúc phủ đệ thời Lý và kế tiếp là thời Trần…

Như vậy, sau hai đợt đào khảo cổ ở Cầu Từ đã cho ta thấy mối quan hệ rõ về mặt kiến trúc Cầu Từ với kiến trúc đồng dạng ở Hoàng thành Thăng Long. Qua đó cũng cho ta thấy mối quan hệ giữa triều đình (thời Lý - Trần) với vùng biên viễn ở phía bắc. Dinh thự của các công chúa và Phò mã ở Cầu Từ, Bồng Lai…đã chứng minh điều đó.

Với những cứ liệu khảo cổ và những tư liệu lịch sử, di tích ở Kép, Từ Hả, Cầu Từ… và sự tích tướng quân Vũ Thành ở thôn Bồng lai (xưa kia vốn là cung Bồng Lai nơi ở của công chúa Bình Dương) để tăng cường càng chứng minh mối quan hệ giữa nhà Lý với các tù trưởng, ở vùng biên viễn nhằm bảo vệ vững chắc cửa ngõ phía Bắc của Thăng Long trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giữ yên đất nước.

Ngô Văn Trụ

;?>