• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5059274
  • Số người đang xem: 19
  • Trong ngày: 201
  • Trong tuần: 13780
  • Trong tháng: 1227031
  • Trong năm: 4707051
Trang chủ

Các danh nhân khoa cử thành phố Bắc Giang

( 00:53 | 30/06/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Thành phố Bắc Giang hiện nay là tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Bắc Giang. Trong lịch sử khoa cử dân tộc kéo dài 845 năm (1075- 1919) cả nước có gần ba nghìn vị Nho học ưu tú đỗ Đại khoa thì tỉnh Bắc Giang có 58 vị và hàng trăm vị đỗ Trung khoa của các kỳ thi Hán học dưới thời phong kiến. Qua chính sử, các tài liệu đăng khoa lục, gia phả, bi ký...được biết dưới thời phong kiến, thành phố Bắc Giang có 9 danh nhân đỗ đạt bằng con đường khoa cử, trong đó có 7 vị đỗ Đại khoa, 2 vị đỗ Trung khoa.

            Sau khi đăng khoa, các nhà khoa bảng đều ra làm quan phò vua giúp nước và có những công hiến lớn lao cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ các vương triều phong kiến. Đa số các vị đựơc ghi danh như những nhân vật kiệt xuất trong chính sử nước nhà. Tiêu biểu là: Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sỹ Thân Khuê, Tiến sỹ Thân Toàn, Tiến sỹ Thân Hành...

            * Trạng nguyên Giáp Hải (1507- 1586).

            Cụ tổ họ Giáp tên huý là Hà, tự Đạm Phủ  người xã Dĩnh Kế, huyện Phượng Sơn. Cụ nội tên huý là Thuận Trung, ông nội tên huý là Bảo Phúc, cha tên huý là Đức Hưng. Cụ Đức Hưng lấy ba người vợ, sinh được ba con trai và một người con gái. Bà họ Nguyễn sinh ra Giáp Hãng, bà họ Đỗ sinh ra Giáp Trừng (tức Giáp Hải), Giáp Thanh và người con gái. Giáp Hải là một nhân vật lịch sử tiêu biểu ở thế kỷ 16, cho nên lịch sử dành nhiều trang viết về ông. Gần năm mươi năm trên hoạn lộ (1538- 1586) phụng sự vương triều Mạc, trải các chức quan: Lục bộ Thượng thư, kiêm Đông các đại học sỹ, Nhập thị kinh diên... được phong tước Sách Quốc công, vinh quang tột đỉnh một thời. Ông chỉ được về trí sỹ khi đã ở tuổi 80, trước lúc lên đường về an trí, vua Mạc Mậu Hợp còn lưu luyến tặng ông lá cờ thêu đôi câu đối:

            Trạng đầu, tể tướng đẩu Nam tuấn

            Quốc lão, đế sư thiên hạ tôn

            Nghĩa là: Ông đỗ Trạng nguyên, làm quan tể tướng, công danh sáng chói như ssao Bắc đẩu ở trời Nam/ Đã xứng đáng là bậc quốc lão, từng là thầy dạy vua, đời đời thiên hạ tôn vinh.

            Với những cống hiến của ông cho đất nước và trước tác để lại cho hậu thế các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá thời nay đã đề cao ông trên nhiều lĩnh vực. Ông xứng đáng được tôn vinh là: Nhà khoa bảng, nhà cải cách kinh tế, nhà chính trị - ngoại giao, nhà văn hoá... của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 16.

            * Tiến sỹ Giáp Lễ

            Ông sinh ngày 1 tháng 4 năm 1545, tại xã Dĩnh Kế. Là con đầu của Trạng nguyên Giáp Hải. Trong nhiều thư tịc cổ viết nhầm tên ông là Giáp Phong, do chữ Lễ và chữ Phong có tự dạng giống nhau (chữ Phong thêm bộ chấm thuỷ bên phải là chữ Lễ, tên gọi Giáp Lễ còn được Giáp Hải ghi rất rõ ràng ở bia mộ cụ Giáp Đức Hưng). Năm 24 tuổi thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa thi Mậu Thìn, niên hiệu Sùng Khang thứ 3, đời Mạc Mậu Hợp (1568), sau ra làm quan giữ chức Hàn lâm viện Hiệu thảo được 6 năm thì mệnh cố, hưởng thọ 3 sỹ tuổi.

            * Tiến sỹ Lê Trưng

            Đến nay chưa thấy tài liệu nào ghi năm sinh năm mất của ông. Các tài liệu đăng khoa lục, bia ký cho biết: Ông người xã Phù Liễn, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang (nay là thôn Phù Liễn, xã Song Mai), thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ (Hoàng giáp) khoa thi Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3, nhà Mạc (1550), làm quan đến chức Thừa chánh sứ.

            * Tiến sỹ Nguyễn Duy Năng

            Người xã Dĩnh Uyên, huyện Phượng Nhãn (nay là thôn Lường, xã Dĩnh Kế). Ông sinh năm 1534, năm 41 tuổi thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa thi Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9, đời Mạc Mậu Hợp (1574), được bổ làm quan Thừa Chánh sứ dưới triều Mạc, sau bỏ nhà Mạc vào Nam, được nhà Lê trọng dụng bổ làm quan khuyến nông , giữ trọng trách về hậu cần cho mặt trận Thuận Quảng. Khi hơn sáu mươi tuổi Ông được phong đại tướng quân. Ông mất tại làng Ưu Điềm, huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay), thọ 80 tuổi.

            * Tiến sỹ Thân Khuê

            Sinh năm 1593, tại làng Phương Đỗ, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang (nay là Phương Đậu, xã Song Mai). Năm 36 tuổi thi đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ, đời Lê Thần Tông (1628). Làm quan đến chức Tham chánh. Năm Dương Hoà nhà Lê (1637) được cử làm Phó sứ đi sứ nhà Minh, mất trên đường đi, được tặng chức Công bộ Hữu Thị lang, tước Hầu.

            * Tiến sỹ Thân Toàn

            Sinh năm 1621, người làng Phương Đỗ, huyện Yên Dũng. Có một số sách ghi nhầm tên ông là Duệ (do chữ Toàn và chữ Duệ có tự dạng giống nhau), năm 32 tuổi thi đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Khánh Đức, đời Lê Thần Tông (1652). Làm quan trải các chức Đô ngự sử, Tả thị lang bộ Hộ (1676). Năm 1682 được cử đi sứ nhà Thanh, khi trở về nước được thăng hàng Tham tụng, Thượng thư bộ Binh, tước bá. Tuổi cao về trí sỹ, khi mất được tặng chức Lại bộ Thượng thư, hàm Thiếu bảo.

            * Tiến sỹ Thân Hành

            Sinh năm 1656, là cháu nội Tiến sỹ Thân Khuê, con của Tiến sỹ Thân Toàn. Thân Hành được ông ngoại là Tiến sỹ Nguyễn Tính, người xã Hoa Cầu, huyện Văn Giang nuôi làm con nuôi nên đổi họ là Nguyễn Hành. Từng thi đỗ sỹ vọng. Năm 33 tuổi thi đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Chính Hoà thứ 9, đời Lê Hy Tông (1688). Năm Quý Dậu (1693) lại thi đỗ khoa Từ mệnh. Năm 1699 Thân hành cùng Hà Tông Mục được cử đi kinh lược miền tây do việc Sầm Trì Phượng, Tri châu Trấn Yên nhiều lần đem quân sang quấy nhiễu vùng Bảo Lạc. Khi đến Bảo Lạc, Thân Hành đã gửi thư sang cho Tri châu Trấn Yên. Trước lời lẽ xác đáng, Sầm Trì Phượng tỏ ý hổ thẹn xin rút quân về. Nhân dân vùng biên ải lại được yên vui làm ăn. Khi trở về kinh đô, Thân Hành được chúa Trịnh khen là người có năng lực và phong cho chức Đô cấp sự trung. Tháng 9 năm 1702 Thân Hành được cử làm Chánh sứ cùng Hà Tông Mục và Nguyễn Công Đồng, Nguyễn đương Bao đi sứ nhà Thanh. Khi về được giữ chức Lại bộ Tả Thị lang, tước Tử. Sau khi mất được tặng chức Công bộ Thượng thư.

            * Giải nguyên Nguyễn Huy Bính

            Chưa rõ năm sinh năm mất, người xã Thọ Xương, huyện Bảo Lộc (nay thuộc phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang). Là người học rộng, biết nhiều. Niên hiệu Thiệu Trị nguyên niên (1840) triều đình mở kỳ thi Ân khoa Nguyễn Huy Bính ứng thí và đỗ Giải nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương) tại trường thi Hà Nội.Sau khi thi đỗ được sơ bổ chức Tri huyện Thượng Lang (Cao Bằng). Ba năm sau được thăng chức Tri phủ Thiệu Hoá (Thanh Hoá). Giữ chức Tri phủ Thiệu Hoá được ba năm lại được thăng chức Án sát tỉnh Ninh Bình ( ? ), ba năm sau lại cải bổ chức Án sát tỉnh Thanh Hoá. Giữ chức Án sát tỉnh Thanh Hoá được ba năm thì thuyên chuyển làm quan Bố chánh Nghệ An. Năm Nhâm tuất (1862), cuộc khởi nghĩa Cai Vàng bùng nổ ở vùng Lạng Giang và nhanh chóng phát triển cả vùng rộng lớn phía Đông bắc.Triều đình nhà Nguyễn sai Nguyễn Huy Bính cùngTrịnh Lý Hanh, Đặng Văn Bảng, Ngô Văn Độ, Nguyễn Huy Cận đem quân đánh dẹp. hai bên xảy ra nhiều trận giao tranh ác liệt, nhất là trận ở Châu Xuyên và Văn Giang. Sau khi Cai Vàng thất trận, Nguyễn Huy Bính được cải bổ giữ chức Tuần phủ Hà Nội, sau được vời vào kinh giữ chức Thượng thư bộ Công, rồi đổi làm Thượng thư bộ Hình. Năm 70 tuổi về trí sỹ ở Thọ Xương và mất hai năm sau khi đã 72 tuổi.

            * Cử nhân Nguyễn Đạo Mạch (Chưa rõ năm sinh năm mất), người xã Thọ Xương, huyện Bảo Lộc (nay thuộc phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang). Theo tác giả Nhật Nham Trịnh Như Tấu trong sách Bắc Giang địa chí, đề mục viết về danh nhân tỉnh Bắc Giang được biết: Ông thi đỗ Cử nhân khoa Canh tuất niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850) tại trường thi Hà Nội. Sau khi thi đỗ được  sơ bổ làm quan Giáo thụ huyện Yên Phong (tỉnh Bắc Ninh) và liên tục 15 năm giữ chức quan này. Năm 1865, được đổi làm quan Tri phủ Tràng Định (Lạng Sơn). Năm 1868, cải bổ chức Tri phủ Trùng Khánh (Cao Bằng). Cuối cùng được thăng chức Án sát thì mệnh cố.

            Đương thời cư quan nhậm chức, mỗi khi nhàn tản ông hay làm thơ dãi bày tâm trạng hay vịnh cảnh thiên nhiên nhiên kỳ thú, nhưng rất tiếc đa phần trước tác của ông bị thất lạc, nay còn truyền một số bài nhưng đều xứng đáng là áng văn tuyệt bút./.

            Việt Văn

 

;?>