• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5058997
  • Số người đang xem: 19
  • Trong ngày: 4227
  • Trong tuần: 13503
  • Trong tháng: 1226754
  • Trong năm: 4706774
Trang chủ

Thành tựu về giáo dục khoa cử tỉnh Bắc Giang thời phong kiến

( 00:57 | 30/06/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

1. Năm Thần Vũ thứ 2(1070), vua Lý Thánh Tông cho xây dựngVăn Miếu thờ Khổng thánh và để cho các hoàng tử đến học. Sau đó 5 năm, vua Lý Nhân Tông cho tổ chức khoa thi đầu tiên để kén chọn người giỏi văn, thông kinh sách ra làm quan, phò vua giúp nước. Ngoài Văn miếu, sử cũ không ghi về hệ thống trường học ở các địa phương, nhưng chắc rằng các chùa chiền, các nhà sư đã tham gia đào tạo nguồn cho các kỳ thi cao cấp thời Lý. Ở Bắc Giang, sau khoa thi đầu tiên13 năm đã có sỹ tử ưu tú đỗ Đại khoa, đó là Nguyễn Viết Chất, người xã Phượng Nhãn, huyện Phượng Sơn (nay thuộc xã Trí Yên huyện Yên Dũng). Ông đỗ Đại khoa năm Mậu Thìn 1088.

            Đến triều Trần, nền giáo dục đã phát triển thêm một bước. Việc học hành thi cử được tổ chức có quy củ, định lệ rõ ràng. Nhà nước đã cho lập nhà học ở các phủ, lộ và giao công việc quản lý chăm lo việc học, việc thi cho bộ Lễ hoặc bộ Học đảm nhiệm. Năm 1298 nhà Trần đặt chức quan giáo thụ ở các châu, phủ và đặt chức Đốc học ở mỗi lộ để dạy sinh đồ. Nhà Trần xây dựng nhà Thái học ở Văn Miếu để nhà Hồ trị vì tuy ngắn ngủi nhưng đã lo việc mở thêm trường học và quy định 3 năm mở một khoa thi. Sỹ tử người nào đỗ kỳ thi hương thì tháng 8 năm sau vào kinh để bộ Lễ kiểm tra sát hạch và năm sau nữa thi hội. Thời gian sỹ tử lưu lại kinh được nhà nước chu cấp và cho học ở Quốc tử giám (nhà Thái học).

            Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, cùng với việc thiết lập lại Quốc tử giám, vua còn cho mở mang các trường học ở các phủ, huyện để cho tất cả con em các tầng lớp nhân dân có điều kiện đến học.Dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460- 1495) nhà nước đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Cùng với việc mở mang trường học ở các xứ, phủ, huyện, châu và đặt quan chức chăm lo quản lý việc học, nhà nước còn ban hành nhiều chính sách khuyến học, khuyến tài. Khác với triều Lý - Trần, thầy giáo chủ yếu là các nhà tu hành, thời Lê Nho học phát triển cực thịnh, người thầy dạy chủ yếu là các nho sinh ưu tú đỗ đạt. Các trường học nhà nước do các quan chức đảm nhiệm việc giảng dạy, ở làng xã cũng có nhiều trường do nhân dân xây dựng. Người thầy chủ yếu là các vị sinh đồ... họ chưa thành đạt trên hoạn lộ nên ở lại thôn quê làm nghề dạy học.

            Thời Lê - Mạc - Lê Trung hưng, ở Bắc Giang có 2 trường phủ (phủ Lạng Giang và phủ Bắc Hà) và 5 trường huyện (Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hoà) nhưng rất tiếc nay không tìm được dấu tích.

            Thời Nguyễn, nền giáo dục Nho học kế thừa những thể chế của nhà Lê, đồng thời được mở mang sâu rộng hơn. Ngoài các trường thi Hương (của mấy xứ, trấn gộp lại), các trường phủ, huyện, châu... còn có các trường tổng, xã do nhà nước lập lên, cùng các trường làng, trường tư của các thầy đồ. Đầu thời Nguyễn, ở Bắc Giang có trường phủ Lạng Giang và trường phân phủ Yên Dũng.

            Ở các trấn, nhà nước đặt quan Đốc học, ở các phủ huyện tuỳ từng vùng mà đặt chức quan Giáo thụ hoặc Huấn đạo, ở các tổng có Tổng sư, ở làng xã có Hương sư là những người thầy đảm nhận việc dạy học. Tuy nhiên, sử cũ không ghi được số liệu về trường học và người học ở các địa phương, song, qua thành tựu của nề khoa cử, ta thấy rằng: Bắc Giang là địa phương có nền giáo dục phát triển, các vị đỗ Đại khoa, Trung khoa, Tiểu đăng khoa trong lịch sử khoa cử Hán học đều được khai tâm luyện rèn từ những ngôi trường ấy.

            2.  Thành tựu của nền văn hoá khoa cử nước nhà thời phong kiến được đánh giá thông qua kết quả các kỳ thi kén chọn người hiền tài, cho nên mốc son lịch sử khoa cử Hán học được chính thức đánh dấu vào năm 1075 với sự kiện vua Lý Nhân Tông mở khoa thi ‘‘Tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường’’ để kén chọn người hiền tài vào bộ máy hành chính nhà nước. Trải qua 845 năm, đến khoa thi Kỷ Mùi năm Khải Định thứ 4 (1919) thì cáo chung. Suốt chiều dài lịch sử khoa cử Hán học, các triều đại phong kiến đã tổ chức được 183 khoa thi và lấy gần 3000 sỹ tử đỗ Đại khoa (những khoa thi được sử sách ghi lại). Trong số đó, kẻ sỹ Bắc Giang thời Lý có 1 vị đăng khoa, thời Trần: 4, thời Lê sơ: 17, thời Mạc: 26, thời Lê Trung hưng: 8, thời Nguyễn: 2.

            Người khai khoa cho nền khoa cử Bắc Giang là Nguyễn Viết Chất thi đỗ hàng Đệ nhất Giáp ở khoa thi Mậu Thìn (1088), người đăng khoa cuối cùng là Nguyễn Đình Tuân (Mai Đình- Hiệp Hoà) thi đỗ Đình nguyên ở khoa thi Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái 13(1901).

            Trong số 58 vị nho sinh ưu tú đỗ Đại khoa thì có 4 vị thi đỗ Đình nguyên, 2 vị Trạng nguyên, 1 Bảng nhãn, 3 Thám hoa, còn lại đều đỗ Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp Tiến sỹ. Khoa thi nhiều sỹ tử Bắc Giang đỗ đạt nhất là khoa Mậu Tuất, niên hiệu Đại Chính thứ 9, nhà Mạc (1538) có tới 4 vị đăng khoa, trong đó 1 vị đỗ Trạng nguyên (Giáp Hải), 1 vị đỗ Thám hoa (Hoàng Sầm), và 2 vị Tiến sỹ (Nguyễn Đình Tấn, Ngô Trang)... Có 4 khoa thi có 3 vị đỗ đại khoa và 5 khoa có 2 vị...

            Thống kê phân bố các nhà khoa bảng theo địa danh hành chính cấp huyện như hiện nay, thì Hiệp Hoà có 17 vị, Việt Yên 15 vị, Yên Dũng 13 vị, Thành phố Bắc Giang 7 vị, Tân Yên 4 vị, Lạng Giang 2 vị. Làng quê có nhiều người đăng khoa nhất là làng Yên Ninh, thuộc thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, có tới 10 vị kế tiếp đỗ đạt dưới 2 triều Lê- Mạc. Sau đó là làng Song Khê (Yên Dũng) có 5 vị, làng Phương Độ (Song Mai- Bắc Giang) có 4 vị.

            Người khai khoa cho truyền thống hiếu học, khoa bảng làng Yên Ninh là Thân Nhân Trung. Ông thi đỗ Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469). Kế sau ông có 9 người đỗ Đại khoa, trong đó có 2 con trai (Thân Nhân Tích, Thân Nhân Vũ) và người cháu nội là Thân Cảnh Vân đỗ Thám hoa khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 28 (1487) rồi cả 4 cha con ông cháu ra làm quan đồng triều.

            Cũng gia đình họ Thân ở làng Phương Đậu có 3 cha con ông cháu kế tiếp đăng khoa dưới triều đại Lê Trung hưng, đó là tiến sỹ Thân Khuê, tiến sỹ Thân Toàn và tiến sỹ Thân Hành... Làng Song Khê (Yên Dũng) có 5 người đỗ Đại khoa, thì có 2 cha con họ Đào là nổi danh nhất. Người cha - tiến sỹ Đào Toàn Bân đăng đệ ở khoa thi Nhâm Thìn (1352). Sau đó 22 năm con trai là Đào Sư Tích đăng đệ với danh vị Trạng nguyên ở khoa thi Giáp Dần (1374). Chuyện dân gian kể rằng: Đào Sư Tích khi đỗ trạng nguyên và bái yết Thái thượng hoàng, vì đối đáp thông minh trôi chảy nên vua ngỡ ngàng mà hỏi rằng người thầy của tân Trạng nguyên là ai. Sư Tích trả lời: thần học hành đỗ đạt là do công lao dạy dỗ của thân phụ. Thái Thượng Hoàng khen rằng: thật là “hổ phụ sinh hổ tử”, “phụ tử đồng đăng khoa”. Qua giai thoại ấy mà người đời sau tôn vinh hai cha con họ Đào đều đỗ Trạng nguyên.

            Nhà khoa bảng đăng đệ cuối cùng của quê hương Bắc Giang là Đình nguyên tiến sỹ Nguyễn Đình Tuân. Ông thi đỗ tiến sỹ ở khoa Tân Sửu (1901) rồi ra làm quan cho triều Nguyễn. Trên bước đường hoạn lộ ông chỉ chú tâm đến sự nghiệp đào tạo nhân tài cho đất nước.

            Ngoài 58 nhà khoa bảng được lưu danh trong bản vàng bia đá, Bắc Giang có hàng trăm, hàng nghìn vị nho sinh ưu tú thi đỗ trung khoa và tiểu đăng khoa. Các vị đỗ trung khoa dưới thời Nguyễn được ghi chép đầy đủ, còn các vị thi đỗ ở, triều đại trước chỉ tìm được rải rác trong các văn bia ở các làng xã tỉnh nhà, mà đến nay chưa thể thống kê đầy đủ. Họ đều là những vị trí thức, có vị được bổ làm quan tham gia bộ máy hành chính của nhà nước phong kiến, có người lận đận trên đường khoa cử, hoạn lộ đã ẩn dật ở chốn thôn quê, làm nghề dạy học bốc thuốc cứu người. Chính họ là những người thày khai tâm cho nhiều thế hệ trước khi được vào học ở các trường bậc cao. Sự đóng góp lớn lao của các vị trí thức làng xã làm cho nền giáo dục nước nhà qua các triều đại phong kiến phát triển.

            3. Hệ thống di tích lich sử văn hoá phản ánh nền giáo dục chủ yếu là các văn miếu, trường học, trường thi, văn chỉ, văn từ, đền thờ danh nhân khoa bảng, từ đường dòng họ có người đỗ đạt và các di tích lưu lại văn bia nói về hình thức khuyến học, khuyến tài. Một số di tích tiêu biểu:

            + Văn miếu:

            Trước năm 1895 văn miếu Đại Phúc (nay thuộc thành phố Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh) là nơi tôn thờ đạo Khổng và lưu danh các nhà khoa bảng của xứ Kinh Bắc (sau đổi thành trấn Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh). Nhưng cũng từ năm 1895 tỉnh Bắc Ninh được chia tách thành 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thì văn miếu Đại Phúc vẫn nằm ở vị trí cũ, tỉnh Bắc Giang không xây dựng văn miếu khác, cho nên các nhà khoa bảng Bắc Giang vẫn được tôn thờ, lưu danh tại đó. Hiện Văn miếu Đại Phúc còn lưu 11 tấm bia đá đề danh hơn 700 vị tiến sỹ của quê hương Kinh Bắc, trong đó có 58 vị khoa bảng của tỉnh Bắc Giang hiện nay.

            + Văn chỉ:

          Dưới Văn miếu là cácVăn chỉ hàng huyện, hàng tổng có khi có cả Văn chỉ hàng xã. đó là loại hình di tích đặc biệt, nơi tôn thờ đạo học (đạo Nho - đạo Khổng) và những người học hành đỗ đạt của các địa phương. Hiện nay, những văn chỉ còn lại không nhiều. Đa số các di tích bị phá bỏ từ thời kỳ xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở thế kỷ trước./.

Nguyễn Đặng Văn

 

;?>