• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4151842
  • Số người đang xem: 62
  • Trong ngày: 4633
  • Trong tuần: 25764
  • Trong tháng: 319599
  • Trong năm: 3799619
Trang chủ

Du khảo vùng Khám Lạng

( 19:06 | 30/06/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Là một xã vừa cận thủy vừa cận sơn, Khám Lạng giống như một bức tranh quê hương sơn thủy hữu tình từ ngàn xưa để lại. Xưa Khám Lạng có tên là Khám Lãng thuộc tổng Bắc Lũng, huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc nay là một xã miền núi của huyện Lục Nam.

Trong địa phận của Khám Lạng có núi, có sông. Sông Lục Nam là một trong ba con sông lớn của Bắc Giang chảy qua vùng Khám Lạng nên đất đai ở đây khá màu mỡ và phù hợp với nhiều loại cây trồng, phát triển dân sinh. Núi Khám Lạng thuộc địa phận các xã Khám Lạng, Chu Điện, Phương Sơn là ngọn núi sót của hệ Yên Tử nằm ở bờ hữu sông Lục Nam, cách huyện lỵ Lục Nam chừng 3km. Núi này có ngọn cao tới 100m mang tên Hang Non, sử cũ gọi là núi Yên Phú. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi rằng: “Núi Yên Phú ở xã Bắc Lũng, cách huyện Phượng Nhỡn 27 dặm về phía đông, núi có nhiều đá xanh, bên cạnh có giếng đá, trên có ba hốc đá nước chảy không bao giờ cạn, bên cạnh có đền”. Núi Khám Lạng là ngọn núi đẹp, thế núi bao quát toàn vùng Lục Nam hạ. Núi gồm các ngọn lớn nhỏ, là nơi có phong cảnh đẹp gắn với truyền thuyết về “Tam vị đại vương”, với thắng tích đền cổ. Trên núi có một hang động lớn, trong hang có đường lên trời và đường xuống âm phủ. Đặt chân lên vùng đất này, chúng tôi được nghe người già kể lại truyền tích về ông Cộc- ông Dài. Truyện kể rằng: Vào thời Hùng Vương, khi đất trời bắt đầu buổi khai thiên lập địa, có một người đàn bà ở nơi khác đến đây sinh cơ lập nghiệp. Hàng ngày, bà mò cua, bắt ốc kiếm ăn. Một hôm trên đường lên rừng hái củi (đến khu vực đền Trung hiện nay), bà thấy có một tảng đá lớn, trên đó có hình bàn chân người. Bà liền lấy chân mình ướm thử, sau đó nằm ngủ thiếp đi. Bà mơ thấy có một người đàn ông cao lớn đưa bà đến một lâu đài nguy nga tráng lệ. Sau khi tỉnh dậy, bà thấy trong người khác thường và sau đó bà đã mang thai.

Vì không thể ở được trong làng vì lời đàm tiếu của dân làng, người đàn bà ấy phải làm lều ra bìa rừng (khu vực Đền Hạ ngày nay) để ở tạm. Sau ba năm, bà sinh được một bọc có ba quả trứng. Hàng ngày đi làm, bà thường giấu ba quả trứng trong chăn. Vào ngày 13 tháng 3 âm lịch năm ấy, ba quả trứng bỗng nở ra ba con rắn. Tuy vậy bà không bỏ mà vẫn nuôi con bằng tình mẫu tử, không một lời oán thán. Hàng ngày, khi bà đi chợ, làm đồng vắng nhà, ba con rắn lại lột xác thành ba hoàng tử khôi ngô tuấn tú. Một lần bà mẹ bất chợt trở về, bắt gặp, ba hoàng tử hoảng hốt vội chui vào lốt rắn và bỏ chạy lên núi cao. Bà mẹ liền chạy theo gọi con trở lại nhưng ba con của bà vẫn chạy miết lên rừng và chui vào ba cái lỗ trong một cái hang lớn. Bà mẹ tìm cách lôi con trở lại, không may bà dẫm phải đuôi một con. Tuy đứt đuôi nhưng con rắn ấy vẫn chui được vào hang và người đời đã gọi con rắn đó là “ông Cộc” và hai con kia là “ông Dài”.

Từ truyền thuyết đó, để tưởng nhớ tới những người có công khai thiên lập địa, dân làng ở đây vẫn duy trì hương hoả thờ cúng họ. Đền thờ bà mẹ (đền Mẫu) nằm ở bên sông Cầu Lồ. Trước đây dân làng thờ ba ông lộ thiên ở trên đỉnh hang - ông Ba ở giữa, ông Cả, ông Hai ở hai bên. Sau này, dân làng lại đưa mẫu và ba ông thờ ở trong Hang Non và các đền: đền Thượng, đền Trung và đền Hạ.

Khám Lạng là một xã có 6 Khám 3 Non và đó cũng là tên của các làng xóm. Ba Non ở đây là Non Đình, non Chùa, Non Giếng. Sáu Khám là Khám Là, Khám Hạ, Khám Nồi, Khám Lưu, Khám Vàng và Khám Bến. Khám Lạng có các dòng họ: Nguyễn Văn, Nguyễn Đình, Nguyễn Trọng, Nguyễn Xuân, Phạm Văn, Trịnh, Vũ, Lê, Bùi, Trần, Hoàng, Lưu... Các dòng họ dù là gốc ở đây hay ít nhiều vùng khác đến đây sinh cơ lập nghiệp nhưng họ luôn đoàn kết gắn bó với nhau xây dựng làng xóm. Danh nhân trong vùng có Nguyễn Liên, người thôn Hòa Nội (thôn Bến) từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, hay chữ. Sách Lục Nam địa chí chép rằng: Nguyễn Liên người xã Khám Lãng, triều vua Lê Cảnh Hưng (1740- 1786) là học sinh Quốc Tử Giám, thi Hội đỗ tam trường, làm quan đến chức Huấn đạo huyện Trường An, phủ Trường An. Hiện hậu duệ của ông còn khá đông.

Theo lời truyền của các bậc cao niên trong vùng Khám Lạng- trước kia ở đây có nghề gốm truyền thống. Đa số các làng gốm nằm ven bờ sông Lục Nam cho nên thuyền bè muôn nơi tấp nập ra vào tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế của Khám Lạng phát triển. Mãi đến sau này, nghề gốm ở Khám Lạng mới mất đi nhưng dấu vết để lại thì vẫn còn khá rõ ở ven bờ sông Lục Nam. Địa điểm làm gốm xưa kia của Khám Lạng nay được dân trong vùng gọi là làng Nồi. Cạnh làng Nồi lại có chợ Niêu ngay bên cạnh sông mà phía bên kia sông lại là núi Gốm. Theo những người thợ làm gốm lâu đời ở làng Thổ Hà thì núi Gốm chính là mảnh đất cũ của họ. Những người của dòng họ Lưu ở Khám Lạng đã sinh sống từ rất lâu đời trên đất này. Một trong ba vị tổ của nghề làm gốm lại có một người tên họ Lưu mà những người thợ làm gốm ngày nay vẫn thờ.

Có thể nói Khám Lạng là địa phương có số lượng di tích tương đối phong phú. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, phần lớn các di tích ở Khám Lạng đã bị tàn phá. Là một vùng đất cổ, từ thời Lý, Khám Lạng đã trở thành trung tâm phật giáo ở vùng đông bắc nước ta. Thời Trần cũng là một vùng có ảnh hưởng sâu sắc tới việc truyền giáo của phật phái Trúc Lâm - Yên Tử. Các thời Lê – Mạc – Nguyễn dấu tích văn hóa lịch sử còn rất phong phú.

Chùa Quang Hưng (chùa Cao) thuộc thôn Hòa Nội có quy mô đồ sộ, hoành tráng khởi dựng vào thời Lý, đã bị hủy hoại vào cuối thế kỷ XIX. Trên phế tích cũ, nhân dân còn tìm thấy một số di vật có giá trị như bát, đĩa, chóe thờ, rồng đất nung, các loại gạch ngói cổ có phù điều thời Lý – Trần và một lá đề bằng chất liệu đá cát nhám có chạm khắc hình lưỡng long tranh châu mang phong cách đặc trưng của Rồng thời Lý; chùa Non (Linh Quang tự) ở Bãi Non, thôn Non Chùa, xã Khám Lạng khởi dựng thời Lê Trung Hưng và được trùng tu nhiều lần dưới thời Nguyễn; Chùa Khám Lạng ở xóm Bến, xã Khám Lạng, khởi dựng vào cuối thời Trần, đầu thời hậu Lê nhưng các công trình kiến trúc không còn. Dấu vết để lại là hệ thống chân tảng chạm khắc đài sen, bậc đá, sập đá và hệ thống tượng phật. Trong chùa hiện còn lưu giữ nhiều loại hiện vật có giá trị như sập thờ thời Lê bằng đá xanh, lư hương đá và một số hiện vật khác như bia đá hậu phật (1830), một quả chuông thời Nguyễn, lọ hương đá, mõ đá, đại tự, câu đối cửa võng sơn thiếp lộng lẫy.

Cùng với các ngôi chùa cổ, đến nay ở Khám Lạng còn tồn tại một số di tích: Đình Hạ, đình làng Là; đền Hang Non, miếu Thôn Lưu...

Đình Khám Lạng ở xóm Bến, xã Khám Lạng thờ Cao Sơn, Quý Minh và Vũ Thành. Đây là ngôi đình hàng xã của 5 thôn: Bình Tân, Hòa Nội, Hoàng Tiến, Yên La, Yên Lưu; đình Bến thuộc thôn Bến, xã Khám Lạng khởi dựng vào thời Lê Trung Hưng thờ Cao Sơn – Quý Minh và Vũ Thành.

Ngoài truyền thuyết và các di tích Khám Lạng còn duy trì đặc sắc là các lễ hội truyền thống. Có về đây, chúng ta mới hiểu hết được ý nghĩa của câu ca “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”. Hội Khám Lạng tổ chức vào ngày mồng 6, 7 tháng Ba âm lịch. Hội Hang Non vào 2 ngày 13 và 14 tháng Ba. Đó là những lễ hội dân gian đặc sắc của một vùng.

Khám Lạng, một bức tranh sơn thủy hữu tình, với những con người thủy chung, đôn hậu. Từ di tích Hang Non, chùa Cao, chùa Khám... đến dấu tích các làng gốm cổ và những lễ hội dân gian truyền thống ở Khám Lạng là những di sản văn hóa vô cùng quý giá của quê hương đất nước. Những di sản tiêu biểu do cha ông để lại cùng với sự kiến tạo hàng ngàn năm của thiên nhiên và bàn tay lao động của con người vùng Khám thực sự là một địa điểm lý tưởng giúp cho việc nghiên cứu và tham quan du lịch. Trong một tương lai không xa, chùa Cao, chùa Khám Lạng, khu di tích Hang Non cùng lễ hội dân gian vùng Khám sẽ là điểm hẹn hấp dẫn của khách du lịch mỗi khi về với Bắc Giang./.

Nguyễn Thu Minh

;?>