• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5037271
  • Số người đang xem: 16
  • Trong ngày: 1920
  • Trong tuần: 23950
  • Trong tháng: 1205028
  • Trong năm: 4685048
Trang chủ

Ca trù – Những dấu ấn còn lại trên đất Bắc Giang

( 20:07 | 02/08/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Ca trù xưa kia vốn được vua chúa, quan lại rất mến chuộng đã đành, nhưng trong đời sống của nhân dân ca trù cũng là loại hình dân ca được phổ biến trong dân gian và được quy định thành tục lệ trong hương ước, tộc ước, khoán hội của làng xã… trong các lễ hội lớn, trong dịp khánh tiết, không có ca trù coi như “lễ mọn”, thậm chí “bất thành lễ”.

Ở Bắc Giang, ca trù đã tồn tại và phát triển từ rất lâu, những căn cứ để khẳng định điều đó thể hiện trên tất cả nhiều di sản văn hóa cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể còn tồn tại đến ngày nay.

1. Cách đây trên 400 năm vào thời Lê Mạc (1576), ngôi đình Đông Lỗ (tức đình Lỗ Hạnh) xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, một ngôi đình cổ được xây dựng từ thế kỷ 16, đến nay là ngôi đình cổ nhất xứ Bắc và được mệnh danh là “đệ nhất Kinh Bắc”, bởi nghệ thuật điêu khắc tinh xảo trên các đầu dư, bức cốn và các cấu kiện của đình. Trong tổng thể các bức trạm khắc đó, có một bức trạm mang một giá trị nghệ thuật điêu khắc tinh xảo ở bố cục, đường nét mềm mại uyển chuyển khẳng định sự phát triển mỹ thuật thời Lê Mạc đã đành, mà bức trạm đó còn cho ta những cứ liệu quan trọng khẳng định một môn nghệ thuật ca nhạc dân gian đã tồn tại lúc bấy giờ, đó là ca trù. Bức trạm người chơi đàn đáy được chạm khắc trên khung gỗ hình chữ nhật với chiều dài 36 cm, rộng 24 cm đặt trên vị trí trung tâm của bức cốn ngang trên xà đùi ở đầu hồi bên trái của đình. Người chơi đàn ngồi dựa lưng vào chú hươu, tay cầm cây đàn với tư thế đang gảy đàn. Chiếc đàn có bầu hình chữ nhật, cần dài, loại đàn độc nhất dùng cho loại hình hát ca trù. Như vậy qua bức trạm đã khẳng định rằng nghệ thuật hát ca trù đã từng có ở Đông Lỗ Hiệp Hòa ít nhất cũng có từ thế kỷ 16.

2. Một ngôi đình khác là đình Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tại ngôi đình này còn lưu giữ được tấm bia đá có niên đại 1693, cách đây cũng có trên 300 năm, tấm bia có kích cỡ nhỏ, toàn văn chữ Hán với khoảng 350 chữ. Theo nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Văn Phong cho biết đây là tấm bia ghi về việc đổi lệ hát ca trù ở Thổ Hà. Nguyên văn tấm bia được phiên âm: Bắc Hà phủ, Yên Việt huyện, Thổ Hà xã quan viên, hương lão xã, thông trưởng binh, dân các hạng đồng xã thượng hạ cự tiểu đẳng.

Nhân vi kiến thượng niên, bản đình nhập tịch kỳ phúc, ca xướng nguyên tam thập nhị trù. Xướng nhi thiếu hữu thận nghiệp linh đình. Nhân thử, chí tư kỳ bản xã quan viên thượng lão đẳng tái lập khoán y cựu lệ vi thập lục trù, Xướng liên tiền kế hậu dự, nhập bảng trùng phù.

Nhật trù tự dần chí dậu.

Dạ trù tự dậu chí dần.

Chiếu tu lễ bộ các nghệ như pháp. Nhược mỗ bộ lẫn nghiệp giả, xúc kỳ túc ngoại. Tồn thập lục trù, mỗi thôn trưởng thu bản điền sử tiền tam quan nạp tại đình trung hứa, bản xã quan viên hương lão xã thôn trưởng, đồng văn thuộc, đẳng công luận chỉ phát cải kỳ hạng tiền tam đằng, lập chiếu đơn bản, huyện tình phát hạng tiền tam đẳng, lập chiếu đơn bản huyện tình phát hạng tiền, hoặc tồn tiền, tận tiền kỳ quan viên bản xã thôn trưởng công luận tăng trưởng ca xướng dĩ kính kỳ sự thần, trọng đình trung, biểu kỳ danh. Ngoại thảng hoặc tự tư dĩ hậu kỳ thôn trưởng, nhân gian phạm trù tiền cường giả, đàn ca xướng quyển. Nguyên nhược mỗ thôn nhân chuyên ca trù ẩm tửu, nguyên đại vương đả tử chi.

Kê khoán bản xã cứ tiền triều bản xã tam bảo, thị, độ. Mỗi nguyệt thập nhị phiên mại kỳ thổ khí đẳng vật tại thị dĩ thông giao dịch an dân chúng lạc kỳ nghiệp. Vọng đại vương phù trì chi nhược mỗ nhân bất lệ khoán nội bản xã phạt trư nhất khẩu, tửu nhất vô nguyện y như khoán nội.

Chính Hòa thập tứ niên, thập nguyệt, sơ ngũ nhật lập bi.

Dịch nghĩa:

Quan viên hưng lão, xã thôn trưởng, bình dân các hạng xã Thổ Hà, huyện Việt Yên, phủ Bắc Hà cùng toàn thể dân xã từ già đến trẻ.

Vì thấy những năm trước đây, dân xã vào đám cầu phúc hát xướng cả thảy 32 trù (xét thấy các con hát có phần biếng nhác làm vắng tiếng hát ở sân đình. Vì vậy, đến nay các quan viên hương lão xã nhà lập lại khoán ước đổi lệ cũ làm 16 trù (Các con hát) dự hát nối liền trước sau, nhập bảng lần lượt các trù.

Trù ngày từ giờ dần đến giờ dậu (5 giờ sáng đến 7 giờ tối).

Trù đêm từ giờ dậu đến giờ dần (7 giờ tối đến 5 giờ sáng)

Chiếu theo lễ bộ, các nghệ nhân phải đúng theo phép tắc, nếu bộ nào lười nhác sẽ phải bỏ số thóc riêng. Còn 16 trù, mỗi trưởng thôn phải thu 3 quan sử tiền theo số ruộng rồi nộp cho quan viên, hương lão xã nhà tại đình. (Các quan viên, huong lão) bàn bạc phân tiền 3 hạng rồi chiếu theo đơn của bản huyện phân phát cho các hạng. Tiền còn hoặc hết quan viên, hương lão luận bàn tặng thưởng cho con hát để tỏ rõ sự tôn kính thần và biểu kỳ danh ở chốn đình trung.

Ngoài ra, thảng hoặc từ nay về sau các ông thôn trưởng và mọi người ai tiêu lạm vào tiền ca trù, hay dùng (tiền này) để ca xướng riêng hoặc ăn uống rượu chè mong đại vương đánh chế kẻ đó.

Nay kê khai những điều khoản của dân.

Xã ta căn cứ từ các triều đại trước đó đã có chợ, bến đò là của Tam bảo. Mỗi tháng 12 phiên là nơi buôn bán các đồ sành gốm với các nơi, để việc giao dịch thông thường, dân chúng an cư lạc nghiệp. Mong đại vương giúp đỡ che chở. Nếu người nào không theo lệ khoán, xã nhà xử phạt một con lợn, một vò rượu theo đúng trong khoản ước.

Bia dựng ngày mồng 5 tháng 10, niên hiệu Chính Hòa thứ 14 (1963).

Qua tấm bia cho thấy lệ hát ca trù ở Thổ Hà đã có từ lâu đời, các cụ cao niên ở Thổ Hà cho biết đến trước cách mạng tháng 8-1945 lệ hát ca trù ở đình và ở Hội Thổ Hà vẫn được duy trì, sau cách mạng ca trù suy giảm dần rồi mất hẳn, nhưng ở làng Thổ Hà vẫn còn nhà thờ tổ truyền nghề. Trong khám thờ còn 3 pho tượng, ngồi giữa là đàn bà, hai bên là đồng nữ. Theo dân gian người đàn bà là “ca nương” là tổ nghề hát ca trù ở Thổ Hà còn hai đồng tử là hai hoàng tử thời Lý.

3. Theo nhà nghiên cứu sử học Trần Văn Lạng đã khảo sát tại thôn An Phú, xã Mỹ An, huyện Lục Ngạn cho hay trong bản hương ước và sự lệ của của làng có ghi, mỗi khi ở làng có Hội hay sự lệ làng đều tổ chức hát ca trù. Trong sổ sự lệ còn ghi trước khi tổ chức hát ca trù và khi khảo xét xướng ca đều có văn tế thần. Nay trong sổ còn ghi lại 3 bài văn tế. Một bài đọc vào ngày 11 tháng 11 âm lịch, một bài đọc vào ngày mồng 1 tháng 12 âm lịch và một bài đọc vào ngày mồng 2 tháng 12 âm lịch. Trong 9 ngày lệ làng ấy đều tổ chức hát ca trù. Bài văn tế ngày mồng 1 tháng 12 âm lịch: “Rằng có tế khảo xét xướng ca nên có lễ cáo vậy cung kính: Đại vương do đức khôn sinh ra. Sáng rõ xuất ra nơi  cung chốn. Tích tụ âm dương, âm rộng ban khắp vào tiết cuối đông, ngày mồng 1. Chọn tháng hành lạc. Nhà cao lầu gác, anh em, bè bạn tập trung đầy đủ, ban thưởng theo khuôn phép. Thưởng, bàn theo văn đâu vào đấy. Tập tục theo đúng bản chất, lễ nghi, nguyện thần chứng giám để việc thành danh đầy đủ, cho yên đẹp trăm nhà. Cẩn cáo, kính lễ”.

Ở Quế Nham, Tân Yên còn lưu truyền câu ca:

                        Quế Nham mỗi tiếng bừa rào

                        Tiền Đình mỗi tiếng ả đào hát hay.

Câu ca dân gian ấy đã nói lên niềm say mê, giỏi hát ca trù của giáo phường Tiền Đình.

Như vậy từ Thời Lê đến thời Nguyễn, hát ả đào (ca trù) được phổ biến ở các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng, Tân Yên, Lục Ngạn, Bắc Giang. Trong các bia, các bản hương ước, các sổ sự lệ của làng đều ghi lệ hát ca trù vào đó. Tục này đã thành lệ và được gọi bằng “trù”, “xướng ca”. Khi làng có Hội lệ thì đều có “xướng ca” mỗi lệ co bao nhiều “trù” do làng quy định.

Vào đời vua Thành Thái còn có sách hát ca trù “Ca trù cốt cách” để dạy và hướng dẫn hát ca trù, sánh này được lưu truyền ở nhiều làng xã Bắc Giang.

Những năm đầu thế kỷ 20, ở thị xã Phủ Lạng Thương (thành phố Bắc Giang ngày nay), ca trù đã từng tồn tại và phát triển. Tại phố Mỹ Độ loại hình ca quán thường thu hút đông đảo các tao nhân mặc khách. Cùng như các lối hát ca trù, ca nương, kép đàn, người cầm trống trầu đều là những nghệ nhân tài hoa. Lối ca quán còn có loại đào riêng đó là đào rượu (người hầu rượu trong các quán ca trù).

Đã từ lâu ca trù bị vắng bóng ở các cửa đình, hát nhà trò, hát nhà tơ, hát cô đầu, ca quán im hơi vắng tiếng. Để bảo tồn và phát huy vốn dân ca truyền thống quý báu của cha ông, Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã nhiều năm triển khai công tác điều tra, khảo sát, nghiên cứu ở các tỉnh thành trong cả nước, lập hồ sơ và đề nghị UNESCO ghi danh bảo tồn vốn dân ca quý giá đang bị thất truyền ở Việt Nam.

Vinh dự cho Bắc Giang và 14 tỉnh đã được tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể ca trù của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp vào ngày 1/10/2009 tại AbuDrátbi các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.

Cùng với 14 tỉnh thành trong cả nước đón danh hiệu cao quý này, Bắc Giang đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, khai thác, điều tra trên toàn tỉnh, chỉ đạo xây dựng các câu lạc bộ ca trù ở thành phố Bắc Giang và các huyện trên địa bàn toàn tỉnh mà trọng điểm là: thành phố Bắc Giang, Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng, Lạng Giang, Lục Ngạn v.v…

Đến tháng 10/2010 hai câu lạc bộ của Đoàn Nghệ thuật Chèo, ca, múa nhạc và CLB ca trù huyện Yên Dũng đã đi vào hoạt động và thu hút nhiều hội viên tham gia./.

Ngô Văn Trụ

;?>