• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 3794645
  • Số người đang xem: 42
  • Trong ngày: 7297
  • Trong tuần: 13610
  • Trong tháng: 499129
  • Trong năm: 3442422
Trang chủ

Bài văn bia chùa Thánh Lộ của Tiến sỹ Nguyễn Công Đổng

( 20:35 | 02/08/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Thánh Lộ là ngôi chùa cổ từng được ngợi ca là danh lam cổ tự ở miền thượng xứ Bắc. Cổ tự toạ lạc trên sườn đồi thấp thuộc khu trung tâm của xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, xưa thuộc xã Quế Trạo, tổng Quế Trạo, huyện Hiệp Hoà, xứ Kinh Bắc.

Thánh Lộ là tên chữ, nhưng dân gian quanh vùng quen gọi là chùa Chèo. Chùa Chèo vốn của hai xã Quế Sơn, Quế Trạo thuộc tổng Quế Trạo. Tên gọi chùa Chèo là cách gọi tên dân dã, đọc theo kiểu mượn nghĩa của chữ Trạo mà thành (Trạo: chèo, mái chèo).

Tương truyền, chùa Thánh Lộ được khởi dựng từ thời Lý. Cách đây vài chục năm, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá đã phát hiện các chân tảng, dấu tích của các công trình kiến trúc cổ thời Lý ở nền chùa Thánh Lộ. Nhưng thật tiếc, vài năm gần đây, khi đến khảo sát di tích thì không tìm lại được những hiện vật ấy, cho nên vấn đề xác định niên đại chính xác của di tích này còn bỏ ngỏ chờ đợi những phát hiện mới.

Theo các cụ cao tuổi ở xã Thái Sơn thì trước cách mạng tháng Tám 1945, quy mô kiểu kiến trúc chùa Thánh Lộ rất rộng lớn uy nghiêm, với nhiều hạng mục công trình gắn kết với nhau theo bố cục “nội công ngoại quốc”. Khi đó, cảnh quan chùa còn u tịch, những toà nhà cổ kính còn ẩn hiện thấp thoáng dưới tán lá của vườn cây cổ thụ quanh chùa. Điểm thêm cho sự u tịch, linh thiêng của cảnh Phật là những ngôi tháp cổ, nơi đặt xá lỵ của các vị sư tổ từng trụ trì và viên tịch tại chùa. Trải qua nhiều biến cải, nay chùa chỉ còn toà tam bảo, nhà Tổ và thấp thoáng vài ngọn tháp cổ như thiếu sự chăm sóc của Phật tử.

Toà tam bảo nhìn theo hướng tây nam, cõi Phật gồm Tiền đường và thượng điện gắn kết liền khối theo bố cục chư đinh ( J ). Tiền đường có 5 gian nhà gỗ lim cổ kính mái cong, có 6 vì mái liên kết lực theo chiều ngang và kết cấu lực theo chiều dọc là 5 hàng chân cột cùng các cấu kiện khác gắn kết với nhau bằng các mộng theo kiểu thiểu thượng câu đầu, trụ giá chiêng, hạ kẻ đón. Thượng điện có 4 gian, kết cấu kiểu thượng câu đầu cánh ác, hạ kẻ tràng. Mõm kẻ, cửa võng ở toà tam bảo được chạm khắc khá kỹ theo đề tài quen thuộc thời Lê trung hưng là tứ linh, tứ quý.

Hệ thống tượng thờ ở chùa Thánh Lộ khá phong phú, có tới hơn 70 pho tượng cổ, đặc biệt ở thượng điện còn đặt  khám đá đặt tượng hậu mang phong cách thời Lê thế kỷ 18.

Phía sau Tam bảo là nhà tổ 5 gian cổ kính, nhưng thật buồn vì toà nhà tổ không còn được dùng vào việc phụng Phật mà đã trở thành lớp học từ chục năm nay.

Từ sau ngày hoà bình lập lại, quy mô kiến trúc cũng như không gian đất đai chùa Thánh Lộ dần bị thu hẹp nhưng hiện tại còn khá rộng rãi. Quanh chùa ngoài toà Tam bảo, tổ đường vẫn còn 5 ngọn tháp cổ, có hai ngọn còn nguyên vẹn, là tháp Quang Minh và tháp Ân Quan.Theo bàu vị đá trong lòng tháp, được biết tháp Ân Quang là nơi đặt xá lị của vị hoà thượng có pháp tự Như Viên Giác thiền sư.

Ở dãy nhà tổ chùa Thánh Lộ còn bảo quản một tấm bia đá vuông tứ diện dáng long đình, kích cỡ 160 x50cm (cả đế, chóp). Bài văn bia do tiến sĩ khoa Ất Sửu (1685), làm quan chức Thị Nội thư, Tả Binh Phiên, Bồi tụng Hộ khoa, Đô cấp sự trung là Nguyễn Công Đổng, người xã Đồng Khê, huyện Thanh Lâm soạn văn. Văn bia có tiêu đề “Trùng tu Thánh Lộ tự bi kí” (Bia ghi việc sửa chữa chùa Thánh Lộ). Cao Đăng Triều giữ chức Ưu Trung Thị Nội thư, Tả Binh phiên người xã Đào Hoa, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu viết chữ. Bia tạo ngày tốt, tiết đầu mùa đông (tháng mười), triều vua Chính Hoà thứ 21 (1700).

Đây là tấm bia có kích cỡ tầm trung, không chạm khắc hoa văn trang trí nhưng chữ khắc đẹp, xứng đáng là tác phẩm thư pháp nghệ thuật của Cao Đăng Triều, một tác giả có uy tín được nhiều địa phương nhờ cậy viết chữ mẫu văn bia ở thời kì cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII.

Bài văn bia với khoảng 2500 chữ do một đại trí thức Nho học soạn (Tiến sĩ Nguyễn Công  Đổng) là một bài văn hay, ý lời khúc triết, mượt mà thật xứng là cây đại bút.

Nội dung bài văn bia xin được tóm lược để độc giả cùng tham khảo:

Chùa Thánh Lộ xã Quế Sơn, huyện Hiệp Hoà là chốn danh lam cổ tích, lâu ngày đã bị hư hỏng. Nay có vị ở Thị Nội cung tần họ Vương tên huý là Ngọc Chất, người xã Đặng Xá, huyện Thanh Lâm cúng vào chùa 500 xâu tiền sử. Vì vậy quan viên hương lão, già trẻ hai xã Quế Trạo, Quế Sơn cùng tín thí thập phương hoặc gỗ, hoặc tiền đóng góp giúp cho việc sửa chữa chùa được viên thành, chế độ được đổi mới, quả như trời Đâu xuất vậy.

Toà thượng điện, lâu ngày hư hỏng nhiều, cần sửa chữa. Trong ấp có Hiền quan Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, phó Tri thị Nội thư, Tả Binh phiên, Tư Lễ giám, Đô Thái giám, Phương Lộc hầu, Ngọ Hiền công xuất gỗ lim, thuê thợ sửa lại vào năm Bính Dần (1686). Dân xã nhớ ơn bầu cha ông làm Hậu thần, tạo tượng đá hai vị thờ bên trái điện. Ông lại xuất ruộng sản lượng 50 gánh dùng làm ruộng Tam bảo, xuất 250 xâu tiền sử mua 6 cây gỗ lim làm gác chuông, lầu trống...

Như vậy, chùa Thánh Lộ là một di tích lịch sử văn hoá có giá trị cần được quan tâm bảo tồn. Di tích đã được lập hồ sơ di tích trình nhà nước ra quyết định bảo vệ, nhưng các công trình kiến trúc đã bị xuống cấp nên cần được nhà nước và nhân dân địa phương quan tâm quy hoạch và đầu tư kinh phí chống xuống cấp. Đồng thời, cần có biện pháp bảo vệ các di vật, cổ vật cùng vấn đề trồng cây xanh đẻ tái tạo cảnh quan môi trường cho di tích vốn đã được ngợi ca là “danh lam cổ tự”./.

Đặng Văn

 

;?>